Toàn cảnh đầu tư
Nghịch lý “thừa khí, thiếu khí” cho phát điện
Thanh Hương - 28/08/2026 10:47
Khả năng cung cấp khí đang cao hơn nhu cầu huy động cho phát điện, nhưng có thời điểm các nhà máy điện khí vẫn đối mặt nguy cơ thiếu khí. Thực tế này cho thấy, cần tháo gỡ bất cập trong điều độ, tăng tính linh hoạt giữa khí nội địa và LNG.

Khí có nhưng chưa được huy động hết

Trong bối cảnh nhu cầu điện tiếp tục tăng cao, bài toán nguồn khí cho các nhà máy điện năm 2027 và những năm tiếp theo đang được Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đặt ra từ khá sớm.

Theo báo cáo của Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS), năm 2026, khả năng cung cấp khí ước đạt khoảng 6,4 tỷ Sm3 (Standard cubic metre), gồm khoảng 3,3 tỷ Sm3 khí nội địa và 3,1 tỷ Sm3 LNG.

Trong khi đó, lượng khí nội địa tiêu thụ dự kiến chỉ khoảng 2,9 tỷ Sm3, gần tiệm cận nhưng vẫn thấp hơn khả năng cung cấp.

Kho cảng LNG Thị Vải. Ảnh: Petrotimes. 

Đáng chú ý, ngay cả trong trường hợp PV GAS cung cấp khoảng 900 triệu Sm3 LNG cho phát điện theo kế hoạch của Bộ Công Thương năm 2026, Kho LNG 1 triệu tấn Thị Vải cũng mới vận hành chưa tới 40% công suất.

Sang năm 2027, PV GAS dự báo sản lượng khí có khả năng cung cấp tiếp tục lớn hơn nhu cầu huy động khí cho sản xuất điện.

Điều đáng quan tâm là trong bối cảnh tổng nguồn cung không thiếu, hệ thống vẫn có thể xuất hiện tình trạng “vừa thừa, vừa thiếu khí” ở những thời điểm khác nhau trong ngày.

Theo Petrovietnam, phương thức huy động điện những năm gần đây bộc lộ một số bất cập. Ban ngày, khi điện mặt trời được ưu tiên huy động, các nhà máy điện khí có thể được huy động ở mức thấp, khiến nhu cầu khí giảm.

Đến chiều tối, khi điện mặt trời không còn phát điện và nhu cầu của hệ thống tăng, các nhà máy điện khí lại có thể phải tăng công suất nhanh. Trong trường hợp này, hệ thống cung cấp khí, bao gồm cả LNG, có thể không kịp đáp ứng do cơ chế cấp khí hiện hành chưa đủ linh hoạt.

Bởi vậy, nếu chỉ nhìn cân đối cung - cầu trong từng thời điểm, có thể xuất hiện tình trạng thiếu khí cho phát điện. Nhưng xét trên tổng sản lượng, năng lực cung cấp khí vẫn có khả năng đáp ứng nhu cầu của các nhà máy điện.

Bài toán này không chỉ ảnh hưởng tới vận hành các nhà máy điện khí mà còn liên quan trực tiếp đến hiệu quả khai thác nguồn tài nguyên trong nước.

Nhà máy điện Nhơn Trạch 3&4 dùng khí LNG đầu vào. Ảnh: Petrotimes. 

Theo Phó tổng giám đốc Petrovietnam Vũ Đào Minh, những năm gần đây, lượng khí nội địa tiêu thụ mới chỉ đạt hơn 80% năng lực khai thác. Việc huy động khí thất thường ảnh hưởng tới hoạt động vận hành mỏ và làm giảm nguồn thu ngân sách nhà nước.

Trong khi đó, Phó tổng giám đốc Petrovietnam Lê Xuân Huyên cho rằng, khả năng cấp khí cho sản xuất điện năm 2026 cao hơn năm 2025 và tiếp tục được bảo đảm bằng nguồn khí trong nước và LNG trong những năm tới.

Theo ông Huyên, tình trạng “vừa thừa, vừa thiếu khí” hiện nay chủ yếu mang tính thời điểm và liên quan tới việc điều độ các nguồn điện như than, thủy điện, năng lượng tái tạo và điện khí.

Do đặc tính của nguồn điện tái tạo, nhất là điện mặt trời tập trung phát vào ban ngày, nhu cầu huy động điện khí thay đổi mạnh giữa các thời điểm. Vì vậy, việc phối hợp điều độ hợp lý hơn có thể giúp tăng sử dụng khí thiên nhiên trong nước, tránh lãng phí tài nguyên và mang lại hiệu quả kinh tế lớn hơn.

Cần cơ chế linh hoạt giữa khí nội địa và LNG

Để giải bài toán này, PV GAS đã xây dựng các phương án cung cấp khí và làm việc với các bên liên quan, đồng thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét các cơ chế phù hợp.

Một trong những giải pháp được đề xuất là cho phép cấp khí linh hoạt giữa khí nội địa và LNG cho các nhà máy điện, trong đó ưu tiên tiêu thụ tối đa nguồn khí trong nước. Việc phối trộn khí nội địa với LNG khi cấp cho sản xuất điện cũng được đề xuất nhằm tăng khả năng đáp ứng khi nhu cầu huy động thay đổi.

Bên cạnh phương thức cấp khí, một vướng mắc khác nằm ở cước phí vận chuyển khí qua đường ống. Việc chậm giải quyết các vấn đề về cơ chế, trong đó có thẩm quyền phê duyệt giá, khiến cước phí tại một số khu vực phải áp dụng mức tạm tính trong thời gian dài, tiềm ẩn rủi ro cho các bên tham gia chuỗi.

Trung tâm Điện lực Phú Mỹ có quy mô khoảng 4.000 MW dùng khí làm nhiên liệu phát điện. 

Vấn đề đặt ra vì thế không đơn thuần là bảo đảm có đủ khí, mà còn phải tạo được cơ chế để nguồn khí có thể được đưa đến các nhà máy và huy động hiệu quả khi hệ thống điện cần.

Trên cơ sở dự báo nguồn khí nội địa năm 2027 tăng so với năm 2026, Tổng giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Cường yêu cầu các đơn vị trong chuỗi sớm phối hợp xử lý những vướng mắc theo phương án tổng thể, hướng tới tiêu thụ tối đa khí nội địa, bảo đảm nguồn cung cho sản xuất điện và tối ưu lợi ích của Nhà nước.

Cùng với giải quyết những vướng mắc trước mắt, Petrovietnam cũng tính tới bài toán hạ tầng dài hạn. Theo đó, PV GAS được yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh đầu tư, trong đó có nâng công suất Kho LNG Thị Vải, qua đó chuẩn bị năng lực hạ tầng cho thị trường LNG trong tương lai.

Không chỉ điện, nguồn khí cho sản xuất phân bón tại Đông Nam Bộ hiện cũng được bảo đảm. Trong 7 tháng đầu năm 2026, PV GAS đã cấp 325 triệu Sm3 khí và dự kiến cả năm đạt 590 triệu Sm3, đáp ứng nhu cầu sản xuất của Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo). Nguồn khí cho sản xuất đạm tại khu vực được đánh giá cơ bản ổn định về sản lượng và giá trong trung, dài hạn.

Thực tế này cho thấy, câu chuyện của chuỗi Khí - Điện - Đạm Đông Nam Bộ hiện không chỉ là tìm thêm nguồn khí. Khi nguồn cung hiện hữu chưa được khai thác hết, yêu cầu cấp thiết hơn là tháo gỡ những điểm nghẽn về điều độ, cơ chế cấp khí và giá vận chuyển để nguồn lực sẵn có được sử dụng hiệu quả.

Điều này càng quan trọng khi điện khí, đặc biệt là LNG, được kỳ vọng đóng vai trò đáng kể trong hệ thống điện những năm tới. Một hệ thống có đủ nguồn cung nhưng không thể linh hoạt đưa khí tới nhà máy đúng thời điểm hệ thống điện cần sẽ khó phát huy đầy đủ hiệu quả của cả nguồn khí trong nước lẫn hạ tầng LNG đã đầu tư.

Tin liên quan
Tin khác