Đầu tư tài chính
Nhà băng gia tăng tìm vốn ngoại
Hà Tâm - 12/09/2026 08:21
Từ đầu năm đến nay, các ngân hàng Việt đã vay hàng tỷ USD từ các định chế tài chính quốc tế. Dù giá vốn không hề rẻ, song các khoản vay quốc tế chủ yếu có kỳ hạn dài, giúp cải thiện cơ cấu vốn và trạng thái ngoại tệ của các ngân hàng.

"Cắn răng" vay hàng tỷ USD vốn ngoại đắt đỏ

Tại phiên họp Chính phủ tháng 8 diễn ra cuối tuần qua, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng cường hợp tác với các quỹ đầu tư và các định chế tài chính nhằm đa dạng hóa nguồn vốn cho doanh nghiệp.

Thực tế, từ đầu năm đến nay, rất nhiều ngân hàng đã thành công huy động nguồn vốn lớn từ các định chế tài chính nước ngoài.

Khoảng cách giữa huy động và cho vay khá lớn, buộc các ngân hàng phải gia tăng tìm nguồn vốn ngoại.  Ảnh: Đức Thanh

Xét về quy mô, VPBank đang dẫn đầu về vay vốn nước ngoài. Hồi cuối tháng 6/2026, ngân hàng này đã ký kết khoản vay hợp vốn liên kết bền vững trị giá 1,44 tỷ USD (gần 38.000 tỷ đồng) với sự tham gia của 15 định chế tài chính quốc tế, cao hơn mức dự kiến thu xếp ban đầu là 1,2 tỷ USD. Khoản vay sẽ tập trung vào mở rộng tín dụng cho lĩnh vực xanh và xã hội. Đứng thứ hai là HDBank với khoản vay 721 triệu USD vào tháng 7/2026.

Theo báo cáo công bố mới đây của Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam, các ngân hàng thương mại đã quay trở lại thị trường vay hợp vốn quốc tế, với tổng giá trị khoảng 3,4 tỷ USD từ đầu năm đến nay, gồm các khoản đã ký và đang triển khai tại 4 ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân kể từ đầu năm 2026.

Ngoài khoản vay của VPBank và HDBank, hiện Techcombank có kế hoạch huy động 1 tỷ USD, trong khi ACB cũng đang tiếp cận thị trường với khoản vay trị giá 300 triệu USD.

Con số các khoản vay quốc tế sẽ còn cao hơn thống kê trên, bởi nhiều ngân hàng như SeABank, Nam A Bank… cũng đang xúc tiến các khoản vay quốc tế. Tại ĐHĐCĐ thường niên năm nay, VIB cũng đặt mục tiêu huy động 1 tỷ USD từ thị trường quốc tế.

Bên cạnh các hợp đồng vay vốn, một số ngân hàng còn lên kế hoạch phát hành trái phiếu quốc tế và phát hành riêng lẻ cho nhà đầu tư ngoại. Những thương vụ này, nếu thành công, sẽ mang về hàng ngàn đến hàng chục ngàn tỷ đồng cho các ngân hàng.

Cụ thể, HDBank, Vietcombank đang lên kế hoạch phát hành trái phiếu quốc tế. Theo đó, HDBank lên kế hoạch phát hành tối đa 500 triệu USD trái phiếu quốc tế. Còn Vietcombank, trong cuộc gặp gỡ với nhà đầu tư mới đây cũng cho hay, đang xem xét phát hành trái phiếu bằng USD.

Ông Trần Hoài Phương, Giám đốc khối khách hàng doanh nghiệp HDBank cho rằng, việc đa dạng hóa nguồn vốn quốc tế giúp ngân hàng giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn trong nước. Bên cạnh đó, quy trình thẩm định của các định chế phát triển quốc tế cũng là một thước đo độc lập về năng lực quản trị và kiểm soát rủi ro của ngân hàng.

Theo chia sẻ của lãnh đạo các ngân hàng thương mại, vốn vay quốc tế hiện nay không hề rẻ. Nếu tính đầy đủ chi phí, mức vốn dao động quanh 8-9%/năm, tương đương với lãi suất huy động trong nước áp dụng với kỳ hạn dài.

“Tuy nhiên, điều quan trọng nhất khi vay vốn quốc tế là được tiếp cận gói vay quy mô lớn và kỳ hạn dài - điều mà ngân hàng rất khó tìm kiếm được ở thị trường nội địa”, lãnh đạo một ngân hàng chia sẻ.

Bình luận về xu hướng huy động vốn quốc tế mới đây của nhà băng, ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch, kiêm Tổng giám đốc FiinGroup cho rằng, môi trường lãi suất quốc tế vẫn còn cao và thậm chí còn có nguy cơ tăng tiếp. Dù vậy, nguồn vốn quốc tế - phần lớn là vốn trung và dài hạn, sẽ giúp đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn và cải thiện trạng thái ngoại tệ của các tổ chức tín dụng.

Khoảng trống vốn còn rất lớn

Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương cho biết, tính đến ngày 22/8, huy động vốn bằng đồng Việt Nam đã tăng 8,77% so với đầu năm, cao hơn mức tăng 8,38% của tăng trưởng tín dụng. Đây là thời điểm hiếm hoi trong 5 năm qua hệ thống chứng kiến tăng trưởng huy động lớn hơn tăng trưởng tín dụng.

Tuy tăng trưởng huy động vốn cải thiện trong quý II/2026, song vẫn chưa thể khỏa lấp ngay khoảng cách giữa huy động và cho vay kéo dài suốt nhiều năm qua (hiện quy mô huy động vẫn thấp hơn quy mô tín dụng gần 2 triệu tỷ đồng).

Từ đầu năm đến nay, hệ thống ngân hàng đã bơm ra khoảng 1,7 triệu tỷ đồng vốn mới cho nền kinh tế, trong khi tổng giá trị vốn doanh nghiệp huy động qua các kênh thị trường vốn ước chỉ đạt 460.800 tỷ đồng. Điều này cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc rất lớn vào tín dụng. Để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng 2 con số giai đoạn tới, nhu cầu huy động vốn của hệ thống ngân hàng là rất lớn.

Ông Nguyễn Quang Thuân phân tích, áp lực tăng trưởng lớn, chênh lệch huy động/tín dụng cao và vấn đề cấu trúc nội tại của ngành ngân hàng vẫn chưa được giải quyết (mất cân đối kỳ hạn, hệ số an toàn thấp, bộ đệm vốn mỏng…) đang là những thách thức lớn. Chính vì vậy, sẽ rất tốt cho hệ thống nếu các ngân hàng huy động được vốn từ nguồn mới.

Trong bối cảnh cầu vốn cho tăng trưởng 2 con số giai đoạn tới là rất lớn, nguồn tích lũy trong nước không đủ đáp ứng, bên cạnh các ngân hàng, doanh nghiệp tìm kiếm vốn quốc tế, nhiều chuyên gia kiến nghị Bộ Tài chính nghiên cứu phát hành trái phiếu quốc tế. Với uy tín hiện nay của Việt Nam, việc phát hành trái phiếu có thể đạt mức lãi suất thuận lợi hơn so với để từng doanh nghiệp tự huy động vốn.

Theo các chuyên gia, nhiều năm qua, ngoài nguồn ngân sách, vốn đầu tư cho các dự án hạ tầng vẫn dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng. Các dự án hạ tầng thường có thời gian đầu tư và thu hồi vốn dài hạn, trong khi 80-90% nguồn vốn huy động của ngân hàng hiện nay là ngắn hạn. Dùng vốn ngắn hạn để cho vay các công trình dài hạn đẩy rủi ro kỳ hạn của các ngân hàng vào tình thế căng thẳng. Chính vì vậy, để thực hiện các đại dự án giai đoạn tới, bên cạnh vốn ngân sách và ngân hàng, cần phải đa dạng hóa các kênh dẫn vốn khác (trong đó có kênh trái phiếu quốc tế).

Tuy nhiên, đối với trái phiếu hạ tầng, các chuyên gia khuyến nghị cần phát triển trái phiếu dự án cụ thể, thay vì trái phiếu chung chung (áp dụng với cả trái phiếu quốc tế lẫn trái phiếu phát hành nội địa). Việc gắn với từng dự án cụ thể sẽ khiến trái phiếu phát hành hấp dẫn và đáng tin cậy hơn, vì khi đó tài sản bảo đảm, dòng tiền riêng cho từng dự án, mức độ bảo lãnh của Nhà nước (hoặc ngân hàng)… cũng sẽ rõ ràng, minh bạch hơn.

Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8/2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính tích cực thực hiện hiệu quả các giải pháp phát triển các thị trường vốn, trái phiếu doanh nghiệp, chứng khoán để bổ sung nguồn lực cho tăng trưởng, giảm phụ thuộc vào vốn tín dụng; khẩn trương hoàn thiện phương án sắp xếp, cổ phần hóa và thoái vốn doanh nghiệp có vốn nhà nước gắn với niêm yết để tăng hàng hóa trên thị trường chứng khoán.
Tin liên quan
Tin khác