| Ông Nguyễn Hoàng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ TP. Hà Nội (HANSIBA) |
Áp lực tăng trưởng trong cuộc đua chuỗi giá trị
Những ngày giáp Tết, người ta thường bàn chuyện đoàn viên, mâm cỗ và mùa xuân phía trước. Nhưng gặp ông Nguyễn Hoàng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Công nghiệp hỗ trợ TP. Hà Nội (HANSIBA) dịp này, lại nghe ông nói về những tiêu chuẩn công nghiệp, những cuộc thương thảo với đối tác nước ngoài, những kế hoạch cho mục tiêu tăng trưởng GRDP 2 con số của Thủ đô.
Đặc biệt, giọng ông hào hứng khi đề cập chuyện làm thật, chịu áp lực thật của cộng đồng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Nghe ông kể, cảm giác về một cái Tết công nghiệp trở nên rõ rệt, ít màu mè, không ồn ào, nhưng nặng hàm lượng chất xám, quy trình, chuẩn quốc tế và áp lực thị trường.
“Năm 2025 là năm nhiều thách thức, khi yêu cầu về đầu tư công nghệ, thiết bị, tiêu chuẩn và quản trị ngày càng cao. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo sát sao của UBND TP. Hà Nội và sự đồng hành của các sở, ngành, cộng đồng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đã đạt được những kết quả tích cực”, ông Hoàng mở đầu.
Tết, ở một nghĩa khác, cũng là lúc con người, hay doanh nghiệp nhìn lại xem mình đã đi qua năm cũ như thế nào, có đặt được viên gạch nào tử tế cho năm mới hay chưa. Với công nghiệp hỗ trợ, đó là câu hỏi đã kịp chen vai vào chuỗi giá trị toàn cầu ở khâu nào, tiêu chuẩn nào đã vượt qua, đã đủ bản lĩnh để giữ lại phần giá trị gia tăng cao hơn trong nước hay chưa.
Năm 2025 có thể xem là quãng thời gian bản lề của kinh tế Thủ đô. GRDP ước tăng 8,5% trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động và sức mua chưa hồi phục hoàn toàn. Thu ngân sách đạt khoảng 650.000 tỷ đồng; vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng hơn 10,7%; thu hút FDI vượt kế hoạch; dư nợ tín dụng tăng 22,7%; kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 69,26 tỷ USD, tăng 11,6% so với năm 2024.
- Ông Nguyễn Hoàng
Những con số ấy không chỉ phản ánh sức chống chịu, mà còn cho thấy, nền công nghiệp Hà Nội đã tạo ra bệ đỡ đủ tốt để Thành phố tự tin đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP 11% trong năm 2026, trong đó công nghiệp phấn đấu tăng 9,5%. Trong bức tranh ấy, công nghiệp hỗ trợ giữ vai trò mắt xích trung tâm của sản xuất và chuỗi giá trị.
Hà Nội hiện có 8.799 doanh nghiệp chế biến, chế tạo; gần 20.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng; hàng trăm doanh nghiệp cung cấp điện, nước, hơi nước, xử lý nước thải và chất thải; cùng hơn 218.000 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn.
Có thể thấy, Hà Nội đã hình thành một hệ sinh thái công nghiệp đa lớp, nơi các doanh nghiệp sản xuất cuối, doanh nghiệp phụ trợ, nhà cung ứng vật liệu, hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ logistics vận hành trong cùng một không gian kinh tế. Từ đó, khả năng xây dựng chuỗi công nghiệp nội địa có độ hoàn chỉnh cao được mở rộng.
Ở nhiều thành phố công nghiệp lớn trên thế giới, quá trình này thường kéo dài hàng thập kỷ để tích lũy đủ năng lực, thị trường và chuẩn mực sản xuất, trước khi trở thành nền tảng tăng trưởng bền vững.
Theo ông Nguyễn Hoàng, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Hà Nội và Việt Nam đang đi xa hơn so với cách đây 5-10 năm, không còn thời kỳ doanh nghiệp Việt Nam không làm nổi con ốc vít. Từ các linh kiện điện tử, cảm biến, vật liệu kỹ thuật đến phụ trợ trong lĩnh vực hàng không - vũ trụ, nhiều doanh nghiệp đã trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn đa quốc gia, đồng thời mở rộng xuất khẩu sang những thị trường có tiêu chuẩn rất ngặt.
Nhưng để đạt giới hạn đó, doanh nghiệp phải đối diện “áp lực thật”. Đó là áp lực về vốn, khi tín dụng 3-6 tháng không phù hợp với vòng đời đơn hàng 18-24 tháng trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ; áp lực về công nghệ, khi một tiêu chuẩn không đạt có thể khiến cả lô hàng bị loại.
Đó cũng là áp lực về nhân lực, khi ngành này đòi hỏi kỹ sư công nghệ, kỹ thuật cao, chứ không chỉ lao động phổ thông; áp lực về quản trị, khi doanh nghiệp phải giỏi cả sản xuất lẫn đàm phán, tuân thủ, logistics và kiểm soát chất lượng…
“Công nghiệp hỗ trợ là mắt xích cốt lõi, bởi không có linh kiện, phụ trợ thì không thể có công nghiệp sản xuất cuối cùng. Khi phát triển tốt công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nội địa mới tham gia sâu chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn, hình thành hệ sinh thái sản xuất bền vững, qua đó tạo dư địa tăng trưởng lâu dài”, ông Hoàng nhấn mạnh.
Sự thật là, một doanh nghiệp có thể nói hay về tầm nhìn, nhưng trong công nghiệp hỗ trợ, mọi thứ được đo bằng tiêu chuẩn quốc tế, tỷ lệ nội địa hóa, tỷ lệ reject, tỷ lệ giao đúng hạn, vòng đời hợp đồng và mức giá mà thị trường chấp nhận. Đó là nơi lời nói không có nhiều giá trị, còn năng lực thực sự thì không thể che giấu.
Ở góc độ vĩ mô, khi Hà Nội đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP 11% trong năm 2026 và công nghiệp tăng 9,5%, áp lực sẽ dồn lên tầng nền công nghiệp hỗ trợ, nơi quyết định phần lớn khả năng nội địa hóa và tự chủ chuỗi giá trị. Nói như nhiều chuyên gia, nếu không có một nền công nghiệp hỗ trợ mạnh, tăng trưởng công nghiệp 2 con số chỉ là mục tiêu, không phải hiện thực.
Cơ hội lịch sử cho doanh nghiệp nội địa
Bước sang năm 2026, Hà Nội mở ra một giai đoạn mới bằng Chương trình Phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035, được ban hành tại Quyết định số 6126/QĐ-UBND ngày 10/12/2025. Chương trình đặt mục tiêu phát triển công nghiệp hỗ trợ theo chiều sâu, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, hướng tới tăng tính tự chủ nguồn cung linh kiện, giảm phụ thuộc nhập khẩu, hạn chế rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng và nâng cao sức hấp dẫn đầu tư.
Đến năm 2030, Hà Nội phấn đấu có khoảng 1.200 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, trong đó trên 40% đạt tiêu chuẩn quốc tế; đến năm 2035, quy mô tăng lên 1.400 doanh nghiệp, với 45% đạt chuẩn quốc tế. Đây là các con số không dễ đạt được, nhưng là cách tiếp cận rất công nghiệp: đặt chuẩn trước, thị trường đi theo.
Từ góc nhìn doanh nghiệp, thị trường công nghiệp hỗ trợ Việt Nam có hai hướng mở lớn.
Một là thị trường quốc tế, nơi tiêu chuẩn là thước đo và doanh nghiệp nào vượt qua sẽ có đơn hàng với biên lợi nhuận cao, vòng đời dài và khả năng bám chuỗi nhiều năm.
Hai là thị trường FDI nội địa, nơi các tập đoàn đa quốc gia của Nhật, Hàn, châu Âu... đang sản xuất tại Việt Nam và chiếm 20-30% GDP.
“Nếu doanh nghiệp nội địa không tham gia sâu, sẽ bỏ lỡ một thị phần rất lớn và mất cơ hội nâng cao năng lực tự chủ sản xuất”, ông Hoàng nói.
Bên cạnh đó, kinh tế tầng thấp gắn với logistics thông minh, thiết bị bay không người lái (UAV), giám sát - đo đạc, nông nghiệp chính xác, công nghệ hàng không - vũ trụ đang mở ra không gian mới cho công nghiệp hỗ trợ. Đó là các ngành mà Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng có thể tham gia bằng linh kiện, cảm biến, hệ thống điều khiển, vật liệu kỹ thuật hay các cấu phần công nghệ cao.
Vấn đề còn lại là thể chế, doanh nghiệp cần thị trường, nhưng cần cả cơ chế đủ độ linh hoạt để đầu tư công nghệ và vượt qua những “thời gian chết” trong giai đoạn chuẩn hóa năng lực. Vì vậy, ông Hoàng kiến nghị, Hà Nội nghiên cứu thành lập Quỹ Phát triển công nghiệp Thủ đô để hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ về vốn, công nghệ, chuẩn hóa, liên kết chuỗi. Đây là mô hình mà nhiều nước công nghiệp áp dụng từ lâu, khi chuỗi cung ứng không thể hình thành chỉ bằng ý chí doanh nghiệp.
Về phía HANSIBA, liên kết quốc tế theo hướng chuẩn hóa sản xuất đang được thúc đẩy. Hiệp hội cùng Tập đoàn N&G và 10 doanh nghiệp thuộc Mạng lưới Ngành hàng không vùng Kobe (KAN - Nhật Bản) đã ký thỏa thuận xây dựng Tổ hợp Techno Park Việt Nam - Nhật Bản, hướng tới sản xuất linh kiện công nghệ cao, trong đó có linh kiện cho ngành hàng không - vũ trụ.
Hiện tại, 3 nhà máy đã hoàn thiện, một nhà máy đang sản xuất thử và đã vượt qua vòng kiểm nghiệm thứ ba của Airbus. Dự kiến từ quý I/2026, các sản phẩm sẽ được cung ứng trực tiếp cho hãng máy bay này.
“Khi làm việc với các đối tác Nhật Bản, có một điểm rất đáng mừng, họ không chỉ đánh giá cao, mà còn dành nhiều thiện cảm cho Việt Nam, mong muốn hợp tác lâu dài và hỗ trợ Việt Nam phát triển mạnh mẽ”, Chủ tịch HANSIBA chia sẻ.
Nhìn rộng hơn, đây là tín hiệu của hội nhập thực chất, nơi tiêu chuẩn quốc tế, kỹ thuật và thái độ làm việc quan trọng hơn mọi tuyên bố. “Cơ hội rất rõ ràng, vấn đề là doanh nghiệp có đủ quyết tâm, đủ năng lực và đủ tầm nhìn để nắm bắt hay không”, ông Hoàng nhấn mạnh.
Trong ngành này, điều quan trọng không phải là lời hứa, mà là kết quả vận hành trong một năm. Với doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, câu hỏi lớn là đã làm thật đến mức nào và đã chịu đủ áp lực để mở rộng biên độ giá trị hay chưa. Thị trường không thưởng cho những lời tuyên bố, mà chỉ thưởng cho những sản phẩm đạt chuẩn quốc tế, giao đúng hạn, có vòng đời bền và chiếm được thị phần thật.
Năm 2026 mở ra với mục tiêu tăng trưởng 2 con số - mục tiêu đòi hỏi hệ công nghiệp Thủ đô phải vận hành ở một cấp độ mới. Nếu công nghiệp hỗ trợ làm tốt vai trò của mình, Hà Nội không những tăng trưởng, mà còn có nền công nghiệp biết tự đứng trên đôi chân của mình.
Và khi đó, câu chuyện “làm thật, chịu áp lực thật” sẽ không chỉ là tinh thần của một hiệp hội hay một nhóm doanh nghiệp, mà là phẩm chất của một thành phố trong hành trình vươn mình.