Ngày 31/7, Báo Nhân Dân tổ chức tọa đàm với chủ đề "Làm gì để doanh nghiệp nhà nước thực sự dẫn dắt tăng trưởng?". Tại tọa đàm, bà Nguyễn Thu Thủy, Phó cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước (Bộ tài chính), đã chia sẻ về những yêu cầu mới đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước theo Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, cũng như các giải pháp nhằm xây dựng doanh nghiệp nhà nước mạnh, phát huy vai trò dẫn dắt trong nền kinh tế.
| Toàn cảnh buổi toạ đàm. |
Nghị quyết số 79 tiếp tục khẳng định vai trò của kinh tế nhà nước, đồng thời đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước. Theo bà, vai trò của doanh nghiệp nhà nước được đặt ra như thế nào trong giai đoạn phát triển mới và Nghị quyết 79 đã bổ sung những yêu cầu gì?
Qua các thời kỳ, quan điểm chỉ đạo của Đảng luôn khẳng định doanh nghiệp nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; tập trung vào các ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, địa bàn quan trọng về quốc phòng, an ninh và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Nghị quyết số 79 tiếp tục kế thừa quan điểm này, đồng thời đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Trước hết, Nghị quyết xác định mục tiêu phát triển doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn, công nghệ hiện đại và năng lực cạnh tranh trong nước cũng như toàn cầu. Doanh nghiệp nhà nước không chỉ giữ vai trò quan trọng trong các ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu mà còn phải phát huy vai trò dẫn dắt, tạo động lực phát triển, kiến tạo môi trường cạnh tranh và thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế khác.
Nghị quyết cũng đề ra các mục tiêu cụ thể, như phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước nằm trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất châu Á và có từ 1 đến 3 doanh nghiệp nằm trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp nhà nước được yêu cầu chú trọng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, coi đây là những động lực mới để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Một yêu cầu quan trọng khác là nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước áp dụng các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp của OECD. Mặc dù quản trị doanh nghiệp là yêu cầu đối với mọi doanh nghiệp, việc áp dụng các chuẩn mực quản trị tiên tiến theo thông lệ quốc tế và các nguyên tắc của OECD vẫn cần tiếp tục được thúc đẩy, đặc biệt đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Những yêu cầu này đều hướng tới mục tiêu xây dựng các doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn, thực sự đóng vai trò tiên phong, dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, đồng thời tăng cường liên kết với các thành phần kinh tế khác để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu.
| Bà Nguyễn Thu Thủy, Phó cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước (Bộ Tài chính) chia sẻ tại toạ đàm. |
Để hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết số 79, Bộ Tài chính đang xây dựng danh mục doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn. Xin bà cho biết việc xây dựng danh mục này sẽ dựa trên những tiêu chí nào và định hướng sử dụng danh mục này trong quá trình sắp xếp, tập trung nguồn lực cho doanh nghiệp nhà nước?
Nghị quyết số 79 đặt mục tiêu đến năm 2030 có từ 1 đến 3 doanh nghiệp Việt Nam nằm trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới và có 50 doanh nghiệp nằm trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất châu Á. Cùng với đó là nhiệm vụ xây dựng danh mục doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn trong các ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu.
Về tiêu chí, các bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới hay châu Á đều có hệ thống tiêu chí rõ ràng do các tổ chức quốc tế xây dựng. Chúng tôi sẽ nghiên cứu, tiếp cận theo các tiêu chí này, trong đó tập trung vào các chỉ số về quy mô tài sản, vốn chủ sở hữu và một số chỉ tiêu liên quan. Hiện Bộ Tài chính đang tiếp tục rà soát để hoàn thiện tiêu chí, bảo đảm phù hợp với mục tiêu đến năm 2030.
Đối với danh mục doanh nghiệp nhà nước mạnh, trước hết chúng tôi xác định các ngành, lĩnh vực cần có sự hiện diện và vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước theo định hướng của Nghị quyết số 79, như năng lượng, công nghiệp, hạ tầng, quốc phòng, an ninh... Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính sẽ phối hợp với các bộ, ngành liên quan để xác định cụ thể các doanh nghiệp phù hợp.
Đây là định hướng mang tính dài hạn. Có những doanh nghiệp hiện quy mô còn nhỏ, nhưng nếu hoạt động trong lĩnh vực Nhà nước cần đầu tư và giữ vai trò dẫn dắt thì vẫn có thể được đưa vào danh mục để tiếp tục phát triển, từng bước trở thành doanh nghiệp mạnh.
Song song với việc xây dựng danh mục, Bộ Tài chính cũng đang xây dựng phương án sắp xếp lại khu vực doanh nghiệp nhà nước. Qua nghiên cứu và đánh giá thực tiễn cho thấy, việc sử dụng nguồn lực của khu vực này vẫn chưa thực sự hiệu quả, chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển.
Trong gần 40 năm đổi mới, số lượng doanh nghiệp nhà nước đã giảm mạnh, từ khoảng 50.000 doanh nghiệp xuống còn khoảng 850 doanh nghiệp có vốn nhà nước, trong đó khoảng 700 doanh nghiệp là doanh nghiệp nhà nước theo quy định hiện hành, tức Nhà nước nắm trên 50% vốn điều lệ.
Hiện nay, riêng 18 tập đoàn, tổng công ty do Bộ Tài chính là cơ quan đại diện chủ sở hữu đang nắm giữ trên 60% tổng vốn và tài sản của khu vực doanh nghiệp nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp. Điều này cho thấy việc tập trung nguồn lực đã có định hướng nhất định. Tuy nhiên, với khoảng 850 doanh nghiệp, quy mô khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn còn khá lớn so với nhiều quốc gia khác. Vì vậy, thời gian tới cần tiếp tục sắp xếp, cơ cấu lại để tập trung nguồn lực.
Sau khi xác định rõ những ngành, lĩnh vực cần ưu tiên và những doanh nghiệp cần phát triển thành doanh nghiệp mạnh, việc cơ cấu lại sẽ hướng tới giảm số lượng doanh nghiệp, qua đó tập trung nguồn lực hiện có để đầu tư cho các doanh nghiệp giữ vai trò then chốt.
Bên cạnh việc sắp xếp lại nguồn lực hiện có, công tác đầu tư mới cũng cần được định hướng rõ vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên. Đối với các doanh nghiệp được xác định là doanh nghiệp mạnh trong các ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, Nhà nước cần có chính sách phù hợp về nguồn lực và cơ chế hoạt động để doanh nghiệp thực hiện tốt vai trò được giao.
Hiện Bộ Tài chính đang phối hợp với các bộ, ngành liên quan tiếp tục rà soát, hoàn thiện các tiêu chí và nội dung của danh mục doanh nghiệp nhà nước mạnh. Sau khi hoàn thiện, Bộ sẽ báo cáo Chính phủ xem xét.
Thời gian qua, nhiều cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước đã được sửa đổi theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền và khuyến khích đổi mới sáng tạo. Theo bà, những thay đổi này sẽ tạo động lực như thế nào để doanh nghiệp nhà nước mạnh dạn đổi mới và phát huy quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh?
Mới đây, tôi có dịp làm việc với đại diện Viettel. Điều rất đáng mừng là doanh nghiệp cho biết khó khăn lớn nhất hiện nay không còn là cơ chế, bởi thời gian qua nhiều vướng mắc đã được tháo gỡ. Điều họ trăn trở lúc này là làm thế nào để dám làm, dám quyết và phát huy hết quyền chủ động đã được trao.
Đây cũng là chia sẻ mà chúng tôi nhận được từ nhiều doanh nghiệp nhà nước khác. Quá trình phân cấp, phân quyền đã được đẩy mạnh, quyền tự chủ của doanh nghiệp được mở rộng hơn. Vấn đề hiện nay là doanh nghiệp cần chủ động sử dụng đầy đủ, hiệu quả các quyền mà pháp luật đã quy định.
Thực tế, hệ thống pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước vừa được sửa đổi theo hướng tăng cường quyền tự chủ cho doanh nghiệp. Nhiều nội dung được các chuyên gia đề xuất cũng đã được thể chế hóa.
Hiện nay, doanh nghiệp được chủ động xây dựng chiến lược, kế hoạch sản xuất, kinh doanh; quyết định đầu tư; tổ chức bộ máy; tiền lương và nhiều hoạt động quản trị khác. Từ khi các quy định mới có hiệu lực, cơ quan đại diện chủ sở hữu hầu như không còn phải xem xét các hồ sơ xin ý kiến đối với những quyết định đầu tư, mua sắm phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp.
Cơ quan đại diện chủ sở hữu tập trung thực hiện chức năng định hướng chiến lược, như xác định mục tiêu phát triển, định hướng ngành, lĩnh vực, các chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận, nghĩa vụ tài chính và những nhiệm vụ Nhà nước giao. Còn việc đầu tư dự án nào, mua sắm ra sao, thoái vốn hay tổ chức thực hiện như thế nào thuộc quyền quyết định của doanh nghiệp.
Đối với chính sách tiền lương cũng vậy. Doanh nghiệp được quyết định quỹ lương, mức chi trả cho người lao động và phương án phân phối trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Đây là những nội dung thể hiện rõ tinh thần phân cấp, phân quyền và tăng quyền tự chủ trong quản trị doanh nghiệp.
Về đổi mới sáng tạo, pháp luật cũng đã có những điều chỉnh nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp mạnh dạn hơn trong chấp nhận rủi ro. Chẳng hạn, việc bảo toàn và phát triển vốn được xem xét trên cơ sở hiệu quả tổng thể. Nếu doanh nghiệp triển khai nhiều dự án, có dự án chưa thành công nhưng xét tổng thể vẫn bảo toàn và phát triển được vốn thì kết quả đó vẫn được ghi nhận.
Tương tự, trong đánh giá, xếp loại doanh nghiệp cũng như đánh giá người quản lý, hội đồng thành viên và người đại diện phần vốn nhà nước đã có quy định loại trừ các yếu tố khách quan; đồng thời tách riêng các khoản đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo hoặc các nhiệm vụ chính trị do Nhà nước giao để đánh giá độc lập, không tính chung vào hiệu quả sản xuất, kinh doanh thuần túy của doanh nghiệp.
Đây là những bước đi quan trọng nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp nhà nước yên tâm hơn khi triển khai các nhiệm vụ đổi mới sáng tạo, mạnh dạn thực hiện những dự án có tính đột phá và phát huy tốt hơn quyền tự chủ đã được trao.
Xin cảm ơn bà!