Vốn đầu tư cần một cơ chế đủ tin cậy
Ngày 5/11/2026, tại Hà Nội, hội thảo “Phát triển hạ tầng LNG tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách” được tổ chức với sự tham gia của đại diện các cơ quan hoạch định chính sách, Bộ Công Thương, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, các tổ chức quốc tế và cộng đồng doanh nghiệp năng lượng.
Hội thảo diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, kéo theo yêu cầu ngày càng lớn về nguồn điện ổn định, tin cậy cho các ngành công nghiệp chế tạo, công nghệ cao và chuyển đổi số. Trong khi đó, phát triển điện khí LNG, một trong những nguồn điện quan trọng theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn về đầu tư, hạ tầng và thị trường tiêu thụ.
Ông Nguyễn Văn Phương, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho rằng, phát triển LNG cần chuyển từ cách tiếp cận từng dự án riêng lẻ sang phát triển đồng bộ, hiệu quả toàn bộ chuỗi hạ tầng.
Ba thách thức lớn hiện nay là xác định quy mô phát triển trước biến động của thị trường và yêu cầu chuyển dịch năng lượng; bảo đảm sự đồng bộ của toàn chuỗi (từ kho cảng, đường ống, nhà máy điện, lưới truyền tải và thị trường tiêu thụ); đồng thời huy động vốn và phân bổ hợp lý rủi ro giữa các bên.
Đáng chú ý, cơ chế cam kết mua khí và mua điện phải vừa tạo điều kiện thu xếp vốn, vừa bảo đảm tính linh hoạt trong vận hành hệ thống. Nếu cam kết tiêu thụ không đủ tin cậy, nhà đầu tư khó huy động vốn. Nhưng nếu nghĩa vụ bao tiêu quá cứng nhắc, rủi ro về giá nhiên liệu và sản lượng có thể chuyển sang bên mua điện và người tiêu dùng.
Tại hội thảo, bà Jennifer Wicks, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam cũng nhận xét, nếu không có đủ năng lượng, tham vọng tăng trưởng kinh tế sẽ bị hạn chế. Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể thông qua Quy hoạch điện VIII và việc hoàn thiện các quy định pháp lý, nhưng để chuyển quy hoạch thành các dự án thực tế, cần giải quyết những vấn đề mà nhà đầu tư, tổ chức cho vay và doanh nghiệp phát triển dự án liên tục kiến nghị.
| Khó LNG Thị Vải do PV Gas đầu tư. |
Theo đại diện phía Hoa Kỳ, các dự án năng lượng, đặc biệt là điện khí LNG, đòi hỏi khung pháp lý có khả năng dự báo, cơ chế giá rõ ràng, hợp đồng đáp ứng yêu cầu tài trợ vốn của ngân hàng và quy trình cấp phép phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Nếu thiếu những điều kiện này, dòng vốn đầu tư khó có thể được huy động với quy mô và tốc độ cần thiết.
Một trong những vấn đề được phía Hoa Kỳ đặc biệt nhấn mạnh là khả năng huy động vốn ngân hàng (bankability) của các dự án LNG. Theo đó, các nhà đầu tư cần được bảo đảm về cơ chế giá, nguyên tắc huy động công suất, tính minh bạch trong cấp phép và các hợp đồng được chuẩn hóa. Đặc biệt, hợp đồng mua LNG dài hạn, vốn cần thiết để có được mức giá cung ứng cạnh tranh, phải gắn với cơ chế bao tiêu đủ tin cậy để các tổ chức tài chính chấp nhận cấp vốn.
Đại diện Hoa Kỳ cũng đề cập lợi thế của việc phát triển hệ thống kho cảng LNG hiện đại, bao gồm kho cảng trên bờ và các kho nổi lưu trữ, tái hóa khí (FSRU). Những công trình này giúp Việt Nam đa dạng hóa nguồn cung, tăng khả năng ứng phó với các cú sốc năng lượng quốc tế, đồng thời hỗ trợ vận hành hệ thống điện khi tỷ trọng năng lượng tái tạo tăng lên.
Đồng bộ thị trường khí và điện, tránh đầu tư hạ tầng dàn trải
Thông tin về định hướng phát triển LNG, ông Đặng Hải Anh, Phó Cục trưởng Cục Năng lượng - Dầu khí, Bộ Công Thương cho biết, sản lượng khí thiên nhiên khai thác trong nước đang có xu hướng giảm, từ 7,47 tỷ m³ năm 2023 xuống 5,99 tỷ m³ năm 2025 và ước còn 4,56 tỷ m³ năm 2026.
Trong khi đó, theo kịch bản cơ sở tại Quyết định 363/QĐ-BCT, nhu cầu LNG nhập khẩu dự kiến tăng từ 0,5 tỷ m³ năm 2025 lên 9,4 tỷ m³ năm 2030 và 18,8 tỷ m³ năm 2035. Riêng lượng LNG cấp cho phát điện tương ứng khoảng 8,4 tỷ m³ và 14,3 tỷ m³ vào các năm 2030 và 2035.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa quy hoạch và thực tế vẫn rất lớn. Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt mục tiêu phát triển khoảng 22.524 MW điện khí LNG đến năm 2030, trong khi hiện mới chỉ có Nhà máy điện khí LNG Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4 với tổng công suất 1.624 MW vận hành thương mại. Nhiều dự án điện khí LNG khác vẫn chưa tới bước triển khai xây dựng trên thực địa.
Một vấn đề khác là giá LNG nhập khẩu thường cao hơn nhiều nguồn năng lượng truyền thống, khiến hiệu quả của các nhà máy điện khí phụ thuộc lớn vào mức độ huy động điện.
Do đó, mục tiêu không phải phát triển LNG với quy mô lớn nhất, mà phải lựa chọn quy mô, địa điểm, thời điểm đầu tư và cơ chế vận hành phù hợp để tối ưu hiệu quả toàn hệ thống.
Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Việt Sơn, cần tăng cường đồng bộ giữa thị trường khí và thị trường điện. Theo đó, các hợp đồng cung cấp LNG, dịch vụ hạ tầng và mua bán điện cần phù hợp về khối lượng, thời hạn và tiến độ.
Cơ chế phân bổ rủi ro liên quan đến giá nhiên liệu, tỷ giá, nghĩa vụ bao tiêu và huy động điện phải vừa tạo điều kiện thu xếp vốn, vừa kiểm soát được chi phí cung ứng điện và khả năng chi trả của nền kinh tế.
Thứ trưởng cũng đề nghị thúc đẩy sử dụng chung hạ tầng, phát triển các trung tâm LNG phục vụ nhiều hộ tiêu thụ nhằm tận dụng lợi thế quy mô, giảm đầu tư trùng lặp và tiết kiệm chi phí. Cùng với đó là hoàn thiện cơ chế tiếp cận hạ tầng của bên thứ ba, phân bổ công suất và xác định giá dịch vụ minh bạch.
Đối với nguồn cung LNG, Việt Nam cần kết hợp hợp lý giữa hợp đồng dài hạn và mua giao ngay, đồng thời nghiên cứu khả năng tập hợp nhu cầu để mua chung LNG trên cơ sở tự nguyện, minh bạch và phù hợp pháp luật.
| Giá LNG trên thị trường quốc tế đã tăng mạnh từ tháng 3/2026 tới nay, lên gấp khoảng 3 lần và hiện đang ở mức quanh 30 USD/triệu BTU. |
HIện Bộ Công Thương cũng đang tiếp tục hoàn thiện thể chế, trong đó có việc cập nhật Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, dự kiến hoàn thành trong tháng 11/2026 hay Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực cũng được thảo luận tại kỳ họp Quốc hội đang diễn ra.
Như vậy có thể thấy, điểm nghẽn quan trọng nhất của LNG không chỉ nằm ở khả năng xây dựng kho cảng hay nhà máy điện, mà còn ở việc hình thành một cơ chế thương mại đủ tin cậy để huy động vốn dài hạn, đồng thời phân bổ rủi ro hợp lý giữa nhà đầu tư, bên mua điện và người sử dụng điện.
Đây cũng là bài toán cần giải quyết nếu muốn hiện thực hoá các mục tiêu phát triển LNG trong quy hoạch thành năng lực cung ứng điện thực tế, phục vụ tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an ninh năng lượng.