Thời sự Đầu tư
Quan hệ Việt Nam - EU sau 6 năm thực thi EVFTA
Thế Hoàng - 28/07/2026 08:01
Không chỉ gia tăng độ phủ của hàng hóa Việt Nam tại 27 nước EU với kim ngạch xuất khẩu năm gần nhất đạt 56,2 tỷ USD, sau 6 năm thực thi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Việt Nam còn đón dòng vốn hơn chục tỷ EUR từ các nhà đầu tư EU, đưa quan hệ đầu tư, thương mại ngày càng thực chất.

Mở cửa thị trường, duy trì dư thương mại lớn

Ngày 1/8/2026 đánh dấu tròn 6 năm thực thi EVFTA. FTA song phương này được ví như tuyến đường "cao tốc" nối Việt Nam với thị trường 27 nước EU, đưa thương mại hàng hóa hai chiều tăng trưởng ấn tượng.

Nếu năm 2019, kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - EU mới đạt 49,8 tỷ USD, thì đến cuối năm 2025, con số này đã tăng lên 74 tỷ USD, thặng dư thương mại của nước ta với thị trường EU đạt 38,6 tỷ USD.

Mức xuất siêu này cũng là cao nhất trong số các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia.

6 tháng đầu năm nay, thương mại song phương đạt 41,7 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu 31,8 tỷ USD, nhập khẩu từ EU 9,9 tỷ USD, xuất siêu sang EU 21,9 tỷ USD, tăng 15,2%.

Không chỉ tạo động lực cho thương mại, EVFTA còn góp phần gia tăng đáng kể dòng vốn đầu tư trực tiếp từ châu Âu vào Việt Nam. Trong gần 6 năm thực thi hiệp định, vốn FDI từ EU vào Việt Nam đã tăng thêm khoảng 11 tỷ EUR. Con số này cho thấy, sức hút của thị trường Việt Nam đối với các doanh nghiệp châu Âu, đặc biệt nhờ những lợi thế mà EVFTA mang lại.

Như vậy, sau 6 năm, hiệp định này đã giúp tăng kim ngạch thương mại song phương khoảng 40%; thương mại hai chiều duy trì đà tăng trưởng tích cực, bình quân 10 - 15%/năm.

Chia sẻ trước đó, Đại sứ Liên minh châu Âu (EU) tại Việt Nam Julien Guerrier cho biết, EVFTA không chỉ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, mà còn tạo động lực thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), cả từ các quốc gia thành viên EU và các đối tác khác.

Hiệp định đã góp phần đưa Việt Nam trở thành điểm đến đầu tư ngày càng hấp dẫn, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tiếp cận thị trường EU.

Từ các ngành hàng có kim ngạch xuất khẩu hàng tỷ USD như điện tử, da giày, dệt may đến các nhóm sản phẩm nông nghiệp, nhiều doanh nghiệp đã và đang tận dụng cơ hội từ EVFTA để mở rộng thị trường xuất khẩu.

Theo ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch Vina T&T Group, EVFTA đã mở ra nhiều cơ hội để trái cây Việt Nam tiếp cận sâu hơn thị trường châu Âu. Nếu trước đây nhiều mặt hàng vẫn phải chịu thuế nhập khẩu, thì khi hiệp định được thực thi, hầu hết các dòng thuế đã được đưa về 0%, tạo lợi thế quan trọng giúp trái cây Việt Nam nâng cao sức cạnh tranh so với các quốc gia xuất khẩu khác tại thị trường EU.

Nhờ những lợi thế từ EVFTA cùng nỗ lực không ngừng của doanh nghiệp, xuất khẩu rau quả sang EU liên tục ghi nhận kết quả tích cực.

Theo thống kê của Cục Hải quan, năm ngoái kim ngạch xuất khẩu rau quả sang thị trường này đạt gần 480 triệu USD, cao gấp 3 lần so với năm 2021 và cũng là mức cao nhất từ trước đến nay.

Đà tăng trưởng này cho thấy, không chỉ quy mô thị trường được mở rộng mà cơ cấu sản phẩm xuất khẩu cũng ngày càng đa dạng và có giá trị cao hơn. Trong giai đoạn 2021 - 2025, kim ngạch xuất khẩu rau quả sang EU tăng thêm 322,7 triệu USD, tương đương mức tăng 208%, với tốc độ tăng trưởng kép bình quân khoảng 43% mỗi năm.

Theo ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit), kết quả trên là thành quả của quá trình đầu tư bài bản của doanh nghiệp trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm. Các doanh nghiệp đã từng bước đáp ứng tốt hơn những yêu cầu nghiêm ngặt của EU về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững, qua đó tạo dựng niềm tin và vị thế ngày càng vững chắc cho rau quả Việt Nam tại thị trường này.

Thủy sản cũng đang khai thác hiệu quả những lợi thế mà EVFTA mang lại để mở rộng thị phần tại châu Âu.

Điển hình là Công ty TNHH Việt Trường, doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản có nhà máy tại Bến cá Ngọc Hải (phường Hải Sơn, Hải Phòng). Chủ động tận dụng các ưu đãi từ EVFTA, doanh nghiệp đã đẩy mạnh xuất khẩu sang EU và duy trì mức tăng trưởng hơn 200% trong những năm qua.

Để chinh phục thị trường có yêu cầu khắt khe này, Công ty TNHH Việt Trường đầu tư mạnh vào công nghệ chế biến hiện đại, phát triển đội tàu thu mua nguyên liệu và tập trung vào các sản phẩm chủ lực như ngao luộc đông lạnh, bột cá biển.

Với yêu cầu khắt khe của thị trường, doanh nghiệp chú trọng kiểm soát chất lượng nguyên liệu, bảo đảm truy xuất nguồn gốc và đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về xuất xứ để đủ điều kiện xuất khẩu vào thị trường châu Âu.

Ở góc độ toàn ngành, kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang EU duy trì ổn định ở mức 1,1 - 1,3 tỷ USD mỗi năm. Dù tốc độ tăng trưởng chưa bứt phá, việc giữ vững quy mô xuất khẩu này vẫn là kết quả đáng ghi nhận trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, EU liên tục đa dạng hóa nguồn cung và thủy sản Việt Nam vẫn chịu tác động từ cảnh báo "thẻ vàng" IUU đối với hoạt động khai thác hải sản.

Đáng chú ý, EVFTA không chỉ tạo động lực gia tăng kim ngạch xuất khẩu, mà còn thúc đẩy quá trình nâng cấp chuỗi giá trị của ngành thủy sản. Thay vì chủ yếu xuất khẩu sản phẩm sơ chế như trước, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư công nghệ, nâng tỷ trọng các mặt hàng chế biến sâu và có giá trị gia tăng cao.

Chiều ngược lại, nhờ EVFTA, người tiêu dùng Việt Nam ngày càng có nhiều cơ hội tiếp cận các sản phẩm hàng hóa đa dạng, chất lượng cao từ châu Âu với giá thành hợp lý hơn, khi thuế nhập khẩu đối với nhiều mặt hàng từ khu vực này đang giảm theo lộ trình về 0% theo cam kết của Hiệp định EVFTA.

Bộ Công thương khẳng định, trong số 17 FTA đang thực thi, EVFTA mang lại lợi thế lớn nhất khi Việt Nam duy trì xuất siêu bền vững với EU.

Theo đánh giá của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), đây cũng là FTA được doanh nghiệp tận dụng nhanh và hiệu quả nhất. Điều này thể hiện rõ qua kim ngạch xuất khẩu tăng ổn định từ 24,3 tỷ USD năm 2014 lên 56,2 tỷ USD vào năm 2025, trong khi nhập khẩu chỉ tăng từ 8,2 tỷ USD lên 17,6 tỷ USD.

Đầu tư, thương mại còn nhiều triển vọng

Ít ngày trước, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) công bố Báo cáo Chỉ số niềm tin kinh doanh (BCI) quý II/2026.

Báo cáo đề cập nhiều chỉ dấu tích cực cho thấy, dưới tác động của môi trường đầu tư, kinh doanh ổn định và cú hích từ EVFTA, nhiều doanh nghiệp châu Âu đang hoạt động tại Việt Nam cho biết, họ nhận được thêm đơn hàng khi các nhà sản xuất quốc tế đa dạng hóa địa điểm sản xuất sang Việt Nam.

Qua đó, tiếp tục củng cố vai trò của Việt Nam như một trung tâm sản xuất và cung ứng quan trọng trong khu vực.

Báo cáo BCI quý II/2026 cho thấy, cộng đồng doanh nghiệp châu Âu tiếp tục xem Việt Nam là một trong những điểm đến đầu tư hấp dẫn nhất châu Á.

Kết quả khảo sát cho thấy, 54% doanh nghiệp coi Việt Nam là thị trường chiến lược và là cứ điểm hoạt động cốt lõi, trong khi 18% đánh giá Việt Nam là động lực tăng trưởng quan trọng của doanh nghiệp châu Âu.

Những con số này phản ánh sự thay đổi đáng kể trong cách các doanh nghiệp châu Âu định vị Việt Nam trong chiến lược khu vực và toàn cầu.

"Việt Nam không còn chỉ được nhìn nhận là một trung tâm sản xuất, mà ngày càng trở thành nền tảng cho hoạt động sản xuất, tìm nguồn cung ứng, cung cấp dịch vụ khu vực và mở rộng hoạt động trên phạm vi Đông Nam Á", EuroCham nhấn mạnh.

Ông Bruno Jaspaert, Chủ tịch EuroCham nhận định: "Kết quả khảo sát cho thấy, khả năng phục hồi của kinh tế Việt Nam cũng như cộng đồng doanh nghiệp châu Âu đang hoạt động tại đây. Nửa đầu năm 2026 là giai đoạn đầy biến động, nhưng các doanh nghiệp thành viên EuroCham vẫn đạt kết quả kinh doanh vượt kỳ vọng".

Chủ tịch EuroCham cũng cho rằng, kết quả BCI quý II phản ánh rõ nét bức tranh kinh tế vĩ mô khi Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế là một trong những nền kinh tế tăng trưởng năng động nhất châu Á. Trong 6 tháng đầu năm 2026, GDP của Việt Nam tăng 8,18%.

Triển vọng quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và EU trong những năm tới được đánh giá tích cực, dựa trên nền tảng từ EVFTA, xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu và tốc độ cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam.

Hiện nay, xuất khẩu của Việt Nam cần tiếp tục nâng cao khả năng thích ứng với các tiêu chuẩn bền vững và xanh hóa của EU. Đồng thời, cần duy trì cân bằng thương mại, tăng nhập khẩu máy móc, thiết bị, hàng tiêu dùng và thực phẩm từ khu vực này để bảo đảm tính bền vững trong quan hệ thương mại song phương.

Tin liên quan
Tin khác