| Tái cấu trúc nguồn cung nguyên liệu đầu vào giúp doanh nghiệp thỏa mãn xuất xứ hàng xuất khẩu sang thị trường CPTPP. |
Thỏa mãn xuất xứ mới giúp dệt may hưởng ưu đãi
Thỏa mãn quy tắc xuất xứ "từ sợi trở đi" để hưởng ưu đãi thuế quan từ Hiệp định Đối tác Tiến bộ và Toàn diện xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đang là bài toán cốt lõi đối với các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
Việc tái cấu trúc nguồn cung và số hóa quản trị chuỗi giá trị không còn là lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc để tận dụng ưu đãi thuế quan và nâng cao sức cạnh tranh.
Tỷ lệ tận dụng ưu đãi thông qua C/O CPTPP mới đạt khoảng 10%, tương đương hơn 6 tỷ USD kim ngạch.
Bộ Công thương
Hiệp định CPTPP thực thi 1/2019 đã mở ra cơ hội tiếp cận 12 thị trường thành viên. Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam vào khu vực này đã tăng từ 6,27 tỷ USD năm 2018 lên 8,3 tỷ USD vào năm 2025, tăng 33,3%. Tuy nhiên, theo Bộ Công thương, ưu đãi thuế quan chỉ thực sự phát huy tác dụng khi sản phẩm đạt chuẩn về xuất xứ.
Trong khi ngành dệt may trong nước mới chỉ nội địa hóa được khoảng 50% nguyên phụ liệu và tự đáp ứng khoảng 36% nhu cầu về vải.
Chia sẻ tại Tọa đàm: Made in Vietnam” đến “Made in CPTPP”: Tái cấu trúc nguồn cung để đáp ứng xuất xứ và tăng sức chống chịu", Ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) thừa nhận, quy tắc xuất xứ "từ sợi trở đi" là rào cản lớn với dệt may xuất sang thị trường CPTPP.
Dù năng lực sản xuất và cung ứng sợi đạt mức khá, khâu dệt nhuộm và hoàn tất vải trong nước vẫn là một "nút thắt" lớn. Ngành dệt may phải chi tới 15,2 tỷ USD nhập khẩu vải vào năm 2025 và 11,6 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm nay. Phần lớn nguồn vải nhập khẩu đến từ Trung Quốc, thị trường ngoài khối CPTPP nên không thỏa mãn quy tắc xuất xứ của Hiệp định.
Nhưng ở chiều ngược lại, để gia tăng nhập nguyên liệu từ các thị trường nội khối nhằm giúp thỏa mãn tiêu chí xuất xứ cũng khó khả thi, do các nước trong khối CPTPP không phải là địa chỉ cung cấp nguyên phụ liệu cho ngành, ông Cẩm nói.
Kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu của Việt Nam từ khối CPTPP năm 2018 đạt khoảng 1,59 tỷ USD, và đến năm 2025 vẫn chỉ duy trì ở mức 1,58 – 1,59 tỷ USD, hầu như không tăng trưởng.
Doanh nghiệp tái cấu trúc nguồn cung
Trước những thách thức về nguồn cung, các doanh nghiệp dệt may đã chủ động tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo chiến lược linh hoạt hơn:
Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG cho biết, trước khi CPTPP có hiệu lực, TNG lựa chọn nhà cung cấp nguyên liệu dựa trên 3 tiêu chí chính truyền thống: giá thành, chất lượng và tiến độ giao hàng; trong khi nguồn gốc vải, sợi không phải yếu tố quyết định. Nhưng khi CPTPP áp dụng quy tắc xuất xứ từ sợi trở đi, tức sợi và vải phải được sản xuất tại một trong các nước thành viên, hoặc tại Việt Nam, doanh nghiệp đã đưa tiêu chí xuất xứ vào điều kiện lựa chọn nhà cung cấp để đáp ứng được yêu cầu của CPTPP.
"Chúng tôi đã rà soát, phân loại lại toàn bộ danh mục nhà cung cấp theo xuất xứ và ưu tiên hợp tác dài hạn với các nhà máy đáp ứng các yêu cầu về xuất xứ, thay vì chọn nguồn nguyên liệu giá thành cạnh tranh ngoài khối như trước đây. Bộ phận đơn hàng và chào giá đã làm việc trực tiếp với khách hàng ngay từ khâu thiết kế, chào mẫu sản phẩm để dự kiến trước khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ hay không", ông Trần Minh Hiếu, Tổng giám đốc TNG nói.
TNG cũng đầu tư nhiều hơn vào thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với các nhà cung cấp vải nội địa đạt tiêu chuẩn của các nhãn hàng lớn nhằm đảm bảo nguồn cung ổn định, thay vì phụ thuộc vào một vài đầu mối duy nhất.
Ông Ngô Chung Khanh, Phó vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên (Bộ Công thương) nhấn mạnh, Việt Nam đã thực thi 17 FTA với gần 70 đối tác toàn cầu. Doanh nghiệp cần xây dựng "bản đồ chuỗi cung ứng" để tận dụng tối đa ưu đãi, kết nối linh hoạt giữa các FTA nhằm đa dạng hóa nguồn cung và nâng cao sức chống chịu trước những biến động thương mại toàn cầu.
Quan trọng hơn, theo nhiều doanh nghiệp, bên cạnh nguồn nguyên liệu phù hợp, việc chứng minh xuất xứ bằng hồ sơ đầy đủ, minh bạch là điều kiện quyết định.
"Chúng tôi đã xây dựng một quy trình quản trị dữ liệu xuất xứ bằng hệ thống phần mềm, từ khâu đặt nguyên phụ liệu đến khâu xuất hàng do doanh nghiệp tự phát triển. Mỗi lô nguyên phụ liệu khi nhập kho đều được gắn mã QR code hoặc dán mã ERP", theo ông Hiếu.
Gợi ý hướng đi khả thi hơn để tự chủ nguyên liệu, ông Trương Văn Cẩm cho rằng, các doanh nghiệp tính chuyện liên kết hoặc liên doanh với các nhà sản xuất ở các nước mạnh về công nghệ làm vải như Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc để sản xuất tại Việt Nam, với xuất xứ Việt Nam.