Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 77/2026/TT-BGDĐT ngày 25/9/2026 về danh mục ngành, nghề đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp. Danh mục mới áp dụng đối với trình độ cao đẳng, trung cấp, giáo dục trung học nghề và trình độ sơ cấp, đồng thời thiết lập cơ chế cập nhật để hệ thống đào tạo có thể theo sát hơn những thay đổi của thị trường lao động.
Thông tư có hiệu lực từ ngày 1/12/2026. Từ thời điểm này, các quy định về danh mục ngành, nghề đào tạo cấp IV trình độ trung cấp, cao đẳng tại Thông tư số 26/2020/TT-BLĐTBXH hết hiệu lực, trừ các ngành, nghề thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng.
| Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 77/2026/TT-BGDĐT ngày 25/9/2026 về danh mục ngành, nghề đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp. |
Điểm đáng chú ý trong danh mục mới là sự xuất hiện của hàng loạt ngành, nghề gắn với những lĩnh vực đang có nhu cầu nhân lực lớn. Trong nhóm công nghệ có Trí tuệ nhân tạo, Robot và trí tuệ nhân tạo, Công nghệ ứng dụng trí tuệ nhân tạo; lĩnh vực công nghệ số và tự động hóa có Kỹ thuật robot công nghiệp.
Sự xuất hiện của các nghề liên quan đến AI và robot cho thấy giáo dục nghề nghiệp đang mở rộng sang những lĩnh vực công nghệ mới, thay vì chỉ tập trung vào các nghề kỹ thuật truyền thống. Đây cũng là nhóm kỹ năng được dự báo ngày càng cần thiết trong quá trình tự động hóa sản xuất và chuyển đổi số của doanh nghiệp.
Một nhóm nghề khác được bổ sung khá rõ nét gắn với phát triển hạ tầng đường sắt. Danh mục có Lắp đặt và bảo trì hệ thống thông tin tín hiệu và AFC đường sắt tốc độ dưới 200 km/h; Kỹ thuật hệ thống điện đường sắt tốc độ dưới 200 km/h; Lắp đặt và bảo trì hệ thống thông tin tín hiệu và AFC đường sắt tốc độ cao; Kỹ thuật hệ thống điện đường sắt tốc độ cao; Điều độ điện sức kéo đường sắt; Thông tin tín hiệu đường sắt đô thị.
Việc bổ sung các nghề chuyên sâu cho đường sắt diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đang đặt ra nhu cầu lớn về nguồn nhân lực kỹ thuật phục vụ phát triển đường sắt đô thị và các dự án đường sắt mới. Thay vì chờ dự án bước vào giai đoạn vận hành mới chuẩn bị nhân lực, danh mục đào tạo đã bắt đầu định hình những vị trí nghề nghiệp cụ thể cần cho quá trình xây dựng, lắp đặt, vận hành và bảo trì hệ thống.
Lĩnh vực năng lượng cũng xuất hiện những nghề gắn với quá trình chuyển dịch sang nguồn năng lượng mới, gồm Lắp đặt và bảo trì hệ thống năng lượng tái tạo; Vận hành nhà máy điện gió, điện mặt trời. Đây là những công việc đòi hỏi đội ngũ lao động kỹ thuật trực tiếp, bên cạnh nguồn nhân lực trình độ đại học phục vụ thiết kế, nghiên cứu và quản lý.
Cùng với bổ sung nghề mới, Thông tư điều chỉnh tên gọi và mã của một số ngành, nghề nhằm đồng bộ hơn với tên gọi, mã ngành đào tạo ở trình độ giáo dục đại học. Tên và mã cũ được thể hiện đối chiếu ngay trong danh mục để các cơ sở thuận lợi trong quá trình chuyển đổi.
Một điểm mới đáng chú ý khác nằm ở cách danh mục được cập nhật. Đây là vấn đề quan trọng trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh, một số vị trí việc làm mới có thể xuất hiện trong khoảng thời gian ngắn hơn nhiều so với chu kỳ xây dựng và sửa đổi văn bản.
Thông tư quy định danh mục ngành, nghề được rà soát, đánh giá hằng năm và chỉnh sửa, bổ sung định kỳ ít nhất một lần trong 3 năm. Tuy nhiên, giữa hai kỳ điều chỉnh, những nghề mới vẫn có thể được rà soát, cập nhật thường xuyên trên Cổng thông tin điện tử Bộ Giáo dục và Đào tạo để địa phương và cơ sở giáo dục nghề nghiệp triển khai.
Các bộ, ngành, địa phương, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và đơn vị liên quan có thể đề xuất bổ sung nghề mới xuất phát từ nhu cầu thực tế. Đề xuất phải có căn cứ khoa học và thực tiễn, chứng minh nhu cầu nhân lực, đồng thời xác định được đặc điểm riêng của nghề, công việc và vị trí việc làm sau đào tạo.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định việc ban hành nghề mới sau khi có ý kiến thống nhất của ít nhất 2/3 thành viên Hội đồng tư vấn. Thông tin sau đó được cập nhật vào cơ sở dữ liệu trên Cổng thông tin điện tử của Bộ và chính thức đưa vào danh mục tại kỳ rà soát định kỳ tiếp theo. Đối với các lĩnh vực thể thao, nghệ thuật và sức khỏe, Bộ Giáo dục và Đào tạo lấy thêm ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành trước khi cập nhật.
Cơ chế này rút ngắn khoảng cách giữa sự xuất hiện của một nhu cầu nhân lực mới và khả năng phản ứng của hệ thống đào tạo. Một nghề mới phát sinh từ công nghệ hoặc thực tiễn sản xuất không nhất thiết phải chờ đến kỳ sửa đổi danh mục tiếp theo mới được xem xét đưa vào đào tạo.
Thông tư cũng bổ sung giáo dục trung học nghề vào hệ thống danh mục. Phụ lục I áp dụng chung cho cao đẳng, trung cấp và giáo dục trung học nghề, trong khi Phụ lục II quy định danh mục nghề trình độ sơ cấp.
Ở từng nghề, danh mục xác định rõ trình độ được phép tổ chức đào tạo, với ký hiệu THN dành cho giáo dục trung học nghề, TC cho trung cấp và CĐ cho cao đẳng. Nhiều nghề kỹ thuật có thể được đào tạo ở cả ba trình độ.
Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có trách nhiệm rà soát, điều chỉnh tên chương trình phù hợp với danh mục mới, đồng thời cập nhật và công khai những ngành, nghề đang tổ chức đào tạo. Sở Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và giám sát việc thực hiện tại địa phương.
Để tránh ảnh hưởng đến người học, Thông tư quy định các lớp tuyển sinh trước ngày 1/12/2026 tiếp tục được đào tạo và cấp văn bằng, chứng chỉ theo tên, mã ngành, nghề đã áp dụng. Các lớp tuyển sinh từ thời điểm Thông tư có hiệu lực thực hiện theo tên và mã mới.
Tổng hợp của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho thấy, đến ngày 31/7/2026, cả nước có 314 cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập. Chưa đầy hai tháng sau, đến ngày 18/9, con số này giảm còn 281 cơ sở, tương đương mức giảm khoảng 10,5%.
Trong 33 cơ sở đã giảm có 3 trường cao đẳng thuộc các bộ và 30 cơ sở thuộc địa phương, gồm 13 trường cao đẳng và 17 trường trung cấp. Quá trình sắp xếp vẫn đang tiếp tục.
Dự kiến đến ngày 1/10/2026, các bộ, ngành sẽ giữ lại 23 trường cao đẳng trực thuộc, đồng thời chuyển 19 trường cao đẳng, trung cấp về địa phương quản lý. Các địa phương cũng dự kiến tiếp tục sắp xếp, giảm thêm 58 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, gồm 17 trường cao đẳng và 41 trường trung cấp.
Riêng Bộ Giáo dục và Đào tạo dự kiến sắp xếp 12 cơ sở trực thuộc, trong đó 8 cơ sở được chuyển về địa phương quản lý, 4 cơ sở sáp nhập vào các trường đại học trực thuộc Bộ. Hải Phòng, Hà Nội và Ninh Bình đã đồng ý tiếp nhận tổng cộng 6 cơ sở.