| Các chuyên gia kiến nghị, cần ban hành cơ chế tạo thị trường cho doanh nghiệp ngành công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí chế tạo Việt Nam trong các dự án đầu tư công và dự án chiến lược. Ảnh: H.L |
Cần có cơ chế tạo thị trường cho doanh nghiệp Việt
“Công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới” là hội thảo vừa được Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam (VAMI) và các cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức tại Hà Nội.
Theo TS. Trần Văn Khải, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, đây là dịp để các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan của Quốc hội, các chuyên gia, nhà khoa học, các trường đại học, viện nghiên cứu, các hiệp hội nghề nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp cùng trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, đề xuất các giải pháp có tính chiến lược phục vụ công tác hoạch định chủ trương, chính sách và hoàn thiện thể chế, hệ thống pháp luật trong thời gian tới.
Trong phát biểu đề dẫn, bà Nguyễn Thanh Hải, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường nêu rõ, mặc dù đã có những thành tựu quan trọng, tuy nhiên so với yêu cầu của giai đoạn phát triển mới và mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, hai ngành công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí vẫn còn nhiều hạn chế và thách thức lớn.
Đó là phần lớn sản xuất vẫn tập trung vào sản phẩm phổ thông, giá trị gia tăng còn thấp, chưa làm chủ được nhiều loại vật liệu và thiết bị chiến lược phục vụ bán dẫn, điện tử, trí tuệ nhân tạo, robot, điện hạt nhân, hàng không vũ trụ và lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Tỷ lệ chế biến sâu khoáng sản chiến lược như đất hiếm, titan, bauxite còn thấp, chuỗi giá trị chưa được hoàn chỉnh; năng lực nghiên cứu, thiết kế, làm chủ công nghệ lõi và đổi mới sáng tạo của ngành cơ khí còn hạn chế; tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, nhiều thiết bị then chốt vẫn phải nhập khẩu.
Trong khi đó, bước vào giai đoạn phát triển mới, nhiều chương trình, dự án chiến lược quốc gia, trong đó có đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, dự án điện hạt nhân… đang đặt ra những yêu cầu hoàn toàn mới đối với công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí chế tạo của Việt Nam.
Theo PGS-TS. Nguyễn Chỉ Sáng, Chủ tịch VAMI, trong giai đoạn 2026 - 2045, Việt Nam đồng thời triển khai nhiều chương trình lớn về hạ tầng, năng lượng, giao thông, công nghiệp chế biến, chế tạo, khai khoáng, công nghiệp quốc phòng, chuyển đổi xanh. Tổng giá trị đầu tư cho các ngành công nghiệp giai đoạn đến năm 2045 ước tính xấp xỉ 1.000 tỷ USD.
Để thực hiện thành công chương trình lớn này, vai trò của ngành công nghiệp cơ khí, vật liệu là rất lớn. Ông Sáng khẳng định, các doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể làm được, nhưng cần có cơ chế đúng lúc và kịp thời.
Điểm then chốt, theo Chủ tịch VAMI, là cần ban hành cơ chế tạo thị trường cho doanh nghiệp Việt Nam trong các dự án đầu tư công và dự án chiến lược. Ông Sáng phân tích, nếu đấu thầu chỉ lựa chọn theo giá thấp, không tính tỷ lệ nội địa hóa, chuyển giao công nghệ, chi phí vòng đời, năng lực bảo trì và khả năng hình thành chuỗi cung ứng trong nước thì không những doanh nghiệp Việt Nam sẽ khó có cơ hội trưởng thành, mà chúng ta còn phải trả giá đắt cho những sản phẩm và dịch vụ cần nhập khẩu.
Cần quy định trong hồ sơ mời thầu các dự án đường sắt, năng lượng, khai khoáng, quốc phòng và hạ tầng kỹ thuật yêu cầu bắt buộc về kế hoạch nội địa hóa, sử dụng nhà cung ứng trong nước, đào tạo nhân lực, chuyển giao thiết kế, mở dữ liệu kỹ thuật và cam kết bảo trì dài hạn, ông Sáng đề nghị.
Riêng với phát triển ngành cơ khí cho công nghiệp đường sắt, ông Sáng cho rằng, cần có cơ chế đặc thù: ban hành hệ tiêu chuẩn thống nhất, xây dựng trung tâm thử nghiệm, có cơ chế chỉ định thầu cho doanh nghiệp trong nước để làm việc với nhà thầu nước ngoài, bắt buộc chuyển giao công nghệ, quy định tỷ lệ nội địa hóa bắt buộc kể cả với các dự án BOT.
Nhận định các cơ chế này Chính phủ không đủ thẩm quyền phê duyệt vì không có tiền lệ, ông Sáng đề nghị Quốc hội ban hành nghị quyết hoặc ủy quyền cho Chính phủ phê duyệt các cơ chế đặc thù đó.
Thiết lập khung pháp lý thống nhất, ổn định
Cần có Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển các sản phẩm cơ khí trọng điểm giai đoạn 2026 - 2045 là nội dung được ông Phan Đăng Phong, Viện trưởng Viện Nghiên cứu cơ khí, đề cập.
Ông Phong cho biết, theo kịch bản tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm và lấy năm 2025 làm năm cơ sở, tổng dung lượng thị trường cơ khí Việt Nam giai đoạn 2026 - 2045 ước đạt khoảng 7.821 tỷ USD.
Vị chuyên gia này nhận định, cơ hội của cơ khí Việt Nam nằm ngay trong thị trường trong nước. Vấn đề then chốt là biến nhu cầu đầu tư thành đơn hàng cụ thể, nhiệm vụ chuyển giao công nghệ cụ thể và yêu cầu nội địa hóa cụ thể cho doanh nghiệp Việt Nam. Nếu thiếu cơ chế thực hiện rõ ràng, phần lớn giá trị thiết bị của các dự án lớn vẫn sẽ thuộc về nhà thầu và nhà cung cấp nước ngoài.
Theo ông Phong, việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế thí điểm tạo thị trường cho doanh nghiệp cơ khí Việt Nam trong các dự án ưu tiên thuộc những lĩnh vực đường sắt, điện gió ngoài khơi, khai thác bauxite, chế biến alumin, điện phân nhôm có dung lượng thị trường lớn là yêu cầu cấp thiết. Mục tiêu là phá vỡ vòng luẩn quẩn “năng lực yếu vì thiếu cơ hội, thiếu cơ hội vì năng lực yếu”; biến các dự án lớn của quốc gia thành đơn hàng thực tế cho doanh nghiệp trong nước; tạo động lực đầu tư vào thiết kế, tích hợp hệ thống, thử nghiệm, chứng nhận và quản trị dự án.
Cơ chế, chính sách đột phá cần tập trung vào các lĩnh vực có dung lượng thị trường lớn, tác động lan tỏa cao và có khả năng đưa doanh nghiệp Việt Nam tiến tới tự chủ các khâu thiết kế, tích hợp hệ thống, quản lý dự án và chế tạo thiết bị. Hỗ trợ phải có điều kiện, có thời hạn, có tiêu chí lượng hóa và gắn với kết quả đầu ra; không dàn trải cho toàn ngành mà tập trung vào sản phẩm cơ khí trọng điểm, doanh nghiệp nòng cốt, dự án ưu tiên và các khâu có giá trị gia tăng cao.
Cụ thể, ông Phong đề xuất, trong giai đoạn 2026 - 2035, phát triển năng lực nội địa bằng cách lựa chọn ít nhất 3 dự án đầu tiên trong mỗi lĩnh vực: đường sắt đô thị, đường sắt liên vùng, điện gió ngoài khơi, khai thác bauxite, chế biến alumin và điện phân nhôm. Các dự án này được giao nhiệm vụ hoặc chỉ định có điều kiện cho liên danh nhà thầu trong nước đảm nhận phần thiết bị, hệ thống hoặc vai trò tổng thầu EPC. Sau khi hoàn thành, doanh nghiệp Việt Nam phải tự chủ khâu thiết kế, tích hợp hệ thống và quản lý dự án.
Từ góc độ quản lý, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh cho rằng, việc nghiên cứu và đề xuất xây dựng một Luật Quản lý phát triển vật liệu xây dựng trong thời gian tới là rất cần thiết. Mục tiêu hướng đến là thiết lập khung pháp lý thống nhất, ổn định, minh bạch cho quản lý toàn bộ chuỗi vật liệu xây dựng; khắc phục tình trạng phân tán, thiếu đồng bộ; phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương, giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các chủ thể liên quan.
Nêu ý kiến về giải pháp thể chế, Phó chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Nguyễn Phương Thủy cho rằng, cần phải xác định đúng nguyên nhân để có giải pháp trúng đích, thay vì chỉ ban hành thêm chính sách chung chung. Bà Thủy cũng cung cấp thêm thông tin, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đang nghiên cứu tổ chức kỳ họp không thường lệ của Quốc hội vào cuối tháng 7 hoặc đầu tháng 8 để xử lý khối lượng công việc pháp luật rất lớn của năm 2026. Nếu Chính phủ dự kiến trình Quốc hội nghị quyết về cơ chế đặc thù cho hai ngành thì cần khẩn trương hoàn thiện hồ sơ để kịp trình tại kỳ họp đó.
Bà Thủy cũng bày tỏ sự nhất trí với tầm nhìn dài hạn là cần nghiên cứu xây dựng Luật Công nghiệp trọng điểm và Luật Quản lý phát triển vật liệu xây dựng để tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng hai con số.