Chăn nuôi đóng góp tới 26% GDP toàn ngành nông nghiệp
Sáng 28/3, Hội nghị Khoa học, Công nghệ Chăn nuôi và Thú y toàn quốc lần thứ nhất đã chính thức khai mạc.
Sự kiện do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, Vụ Khoa học và Công nghệ, Cục Chăn nuôi và Thú y, Báo Nông nghiệp và Môi trường tổ chức thực hiện.
Đây cũng là lần đầu tiên một hội nghị khoa học công nghệ quy mô quốc gia được tổ chức riêng cho lĩnh vực chăn nuôi và thú y, với sự tham gia của hơn 750 đại biểu.
Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh ngành chăn nuôi hiện là một trong những trụ cột của nông nghiệp Việt Nam, với quy mô khoảng 33 tỷ USD, chiếm 27-28% GDP toàn ngành. Lĩnh vực này không chỉ tạo sinh kế cho hàng triệu hộ dân mà còn đóng vai trò đảm bảo an ninh thực phẩm, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
| Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến phát biểu tại hội nghị. |
Trong thập kỷ qua, ngành duy trì tốc độ tăng trưởng 4,5-6% mỗi năm, đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có quy mô chăn nuôi lớn trên thế giới, với đàn lợn đứng thứ 5 và gia cầm đứng thứ 9.
Năm 2025, tổng sản lượng đạt 8,68 triệu tấn thịt, 21,4 tỷ quả trứng và 1,3 triệu tấn sữa tươi. Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi vượt 2,2 tỷ USD, trong khi sản phẩm thuốc và vaccine thú y đã xuất khẩu tới gần 50 quốc gia.
"Những con số này, nếu như cách đây khoảng hơn chục năm là điều mà không ai dám nghĩ đến", Thứ trưởng nhấn mạnh.
Theo đánh giá của đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường, dư địa tăng trưởng của ngành chăn nuôi vẫn còn rất lớn, khi nhu cầu tiêu dùng protein động vật tiếp tục gia tăng, cùng xu hướng đô thị hóa và chuyển dịch sang sản phẩm chế biến, đóng gói, truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Việc Việt Nam tham gia 17 hiệp định thương mại tự do cũng mở ra cơ hội xuất khẩu đáng kể cho ngành.
Tuy nhiên, trong bối cảnh biến động chính trị, thế quan của các nước, biến đổi khí hậu, dịch bệnh động vật diễn biến phức tạp, khó lường, chăn nuôi nhỏ lẻ chiếm tỷ lệ lớn, đòi hỏi ngành chăn nuôi phải có các giải pháp thích ứng, phải chuyển mạnh sang phát triển bền vững, bảo đảm an toàn sinh học, thân thiện môi trường, chủ động hội nhập quốc tế.
“Do đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là giải pháp rất quan trọng để tạo sự đột phát, phát triển nhanh, bền vững, tạo nền tảng để tái cấu trúc ngành chăn nuôi theo hướng hiện đại, hiệu quả và có sức cạnh tranh”, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho biết.
Thời điểm vàng để ngành chăn nuôi chuyển mình
Theo ông Phạm Kim Đăng, Phó cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y, trên bình diện thế giới, nhu cầu tiêu dùng sản phẩm chăn nuôi gia tăng. Vào năm 2030, nhu cầu tiêu dùng thịt gia cầm, trứng, sữa dự kiến tăng 8-13% mỗi năm.
Thế giới cũng ghi nhận 3 xu hướng chuyển dịch chăn nuôi trong giai đoạn tới. Đầu tiên là sự chuyển dịch về địa lý, trong đó 50% tăng trưởng sản lượng thịt toàn cầu đến từ châu Á (2030). Tiếp theo là sự chuyển dịch xu hướng sản xuất, dùng công nghệ như AI, Iot, Blockchain…để gia tăng sản lượng đầu ra. Cuối cùng là sự dịch chuyển cơ cấu trên bàn ăn, từ thịt đỏ sang thịt gia cầm.
Tại Việt Nam, thời điểm hiện tại, giá lợn đang cao hơn các nước trong khu vực. Trước đây, khi xây dựng chiến lược, Việt Nam phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc. Trong khi Trung Quốc đang ghi nhận tình trạng dư thừa thịt lợn, giá chạm đáy 15 năm.
“Chúng tôi coi khủng hoảng đa tầng 2025-2026 là bộ lọc khắc nghiệt nhưng cần thiết để tái cơ cấu ngành chăn nuôi Việt Nam”, ông Đăng nói.
Vì vậy, ông đề xuất nhiều giải pháp để tái cơ cấu ngành chăn nuôi, như làm chủ công nghệ giống, phát triển chuồng trại bằng công nghệ thông minh, ứng dụng quản lý tự động, hiện đại hóa công nghệ giết mổ, đa dạng hóa sản phẩm chế biển…
| Nhiều công nghệ mới được trưng bày tại hội nghị. Trong ảnh là sản phẩm vaccine phòng chống dịch tả lợn châu Phi hoàn toàn "made in Việt Nam", hiện đã xuất khẩu ra thế giới. |
Riêng trong khía cạnh chế biến sâu, ông Phạm Văn Duy, Phó Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường chỉ ra thực tế cho thấy các cơ sở giết mổ nhỏ lẻ vẫn chiếm tỷ trọng lớn tại Việt Nam, lên tới gần 25.000. Các cơ cơ sở giết mổ tập trung chỉ có 552, trong đó 45 cơ sở đạt quy mô công nghiệp, chiếm hơn 8%.
Theo ông Phạm Văn Duy, bước vào giai đoạn tới, ngành giết mổ và chế biến thịt cần được định hướng theo một lộ trình rõ ràng hơn, không chỉ dừng ở mở rộng quy mô mà là tái cấu trúc toàn bộ hệ thống theo hướng hiện đại và bền vững. Trước hết, cần chuyển mạnh từ mô hình giết mổ nhỏ lẻ sang tập trung, chuẩn hóa và có kiểm soát, định hướng đến năm 2030, tỷ lệ giết mổ công nghiệp phải đạt khoảng 70% đối với gia súc và 50% đối với gia cầm.
Một “mắt xích” then chốt khác là việc phát triển logistics lạnh từ kho bảo quản đến vận chuyển và coi đây là hạ tầng thiết yếu, tương tự như điện hay giao thông đối với ngành công nghiệp thịt.
“Trong thời gian tới, mục tiêu không chỉ là mở rộng xuất khẩu mà còn phải phát triển mạnh tiêu dùng trong nước. Đồng thời, thị trường nội địa cũng cần được khai thác tốt hơn thông qua hệ thống phân phối hiện đại, thay đổi dần thói quen tiêu dùng theo hướng ưu tiên sản phẩm an toàn, có kiểm soát”, ông Duy chia sẻ.