- Toàn cảnh ngân hàng quý II/2026: LDR hạ về 102,4% nhưng chất lượng tài sản xấu đi, cho vay mua nhà chững lại
- Chính thức nới tỷ lệ LDR: 20% tiền gửi kho bạc sẽ làm dịu thanh khoản, big 4 thêm dư địa bơm tín dụng
- Nới lỏng LDR và nới trần tiền gửi Kho bạc chưa giải tỏa được cơn khát thanh khoản năm 2026
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa ban hành Thông tư 50/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thông tư sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 1/12/2026. Thông tư được ban hành nhằm đồng bộ với các quy định về tỷ lệ an toàn vốn và quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ đã được ban hành theo chuẩn mực quản trị rủi ro quốc tế (Chuẩn mực Basel III).
Cụ thể, Thông tư số 50/2026/TT-NHNN quy định về: Tỷ lệ khả năng chi trả (Liquidity coverage ratio - LCR), Tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (Net stable funding ratio - NSFR), Tỷ lệ đòn bẩy (Leverage ratio - LEV). Đồng thời Thông tư cũng hướng dẫn phương pháp tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (tỷ lệ LDR) để phản ánh đúng bản chất, ý nghĩa kinh tế của tỷ lệ này.
Kể từ ngày Thông tư có hiệu lực (1/12/2026), các ngân hàng có năng lực, quản trị tốt có quyền đăng ký áp dụng sớm thực hiện theo lộ trình quy định tại Thông tư hoặc áp dụng ngay ngưỡng 100% đối với 2 tỷ lệ LCR, tỷ lệ NSFR. Đối với LCR, mức tối thiểu ban đầu là 50%, sau đó tăng thêm 10 điểm phần trăm mỗi năm và đạt 100% từ ngày 1/10/2033. Với NSFR, tỷ lệ tối thiểu được áp dụng từ mức 90%, tăng lên 95% sau một năm và đạt 100% từ ngày 1/10/2030.
Kể từ ngày 1/10/2028, tất cả các ngân hàng không thực hiện đăng ký sớm sẽ phải áp dụng 2 tỷ lệ LCR, NSFR theo quy định tại Thông tư này. Riêng đối với tỷ lệ LEV, ngân hàng chỉ phải áp dụng khi có quyết định của Thống đốc NHNN.
Trong thời gian áp dụng tỷ lệ LCR, tỷ lệ NSFR nhưng chưa đạt ngưỡng tỷ lệ 100%, ngân hàng áp dụng tỷ lệ LDR theo quy định tại Thông tư này và không phải áp dụng các tỷ lệ sau tại Thông tư 22/2019/TT-NHNN: tỷ lệ khả năng chi trả; tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung hạn và dài hạn và tỷ lệ LDR.
Trường hợp khi ngân hàng đã đạt ngưỡng tuân thủ 100% đối với tỷ lệ LCR và tỷ lệ NSFR, ngoài việc không phải áp dụng các tỷ lệ nêu trên tại Thông tư 22/2019/TT-NHNN, ngân hàng không phải tuân thủ tỷ lệ LDR tại Thông tư này.
Sau khi NHNN ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN, khuôn khổ pháp lý về quản trị rủi ro đã được hoàn thiện đầy đủ và đồng bộ, góp phần từng bước đưa hoạt động của hệ thống ngân hàng tiệm cận với chuẩn mực Basel III đang được áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới.
Theo quy định mới, các tổ chức tín dụng phải thường xuyên duy trì nhiều chỉ tiêu an toàn quan trọng, trong đó có tỷ lệ khả năng chi trả (LCR), tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR), các giới hạn cấp tín dụng và tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR).
Song song với việc đưa vào lộ trình mới về các tỷ lệ thanh khoản, Thông tư 50 cũng thay đổi cách xác định LDR. Điểm đáng chú ý là quy định mới mở rộng phạm vi của Mẫu số (D), điều chỉnh các khoản loại trừ khỏi Tử số (L) và liên kết trực tiếp tỷ lệ này với cơ chế miễn trần LDR khi ngân hàng đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực thanh khoản theo Basel III.
Theo cách tính mới, Tử số là tổng dư nợ gốc nội bảng mà ngân hàng phải chịu rủi ro từ hoạt động cho vay. Khoản mục này bao gồm cả dư nợ phát sinh từ hoạt động nhận ủy thác cho vay đối với cá nhân, tổ chức và dư nợ ủy thác cho tổ chức tín dụng khác thực hiện cho vay.
Tuy nhiên, một số khoản không được đưa vào Tử số, gồm các khoản ngân hàng cho tổ chức tín dụng khác vay và phần dư nợ vay tái cấp vốn từ NHNN nếu khoản vay đó không nhằm mục đích hỗ trợ thanh khoản.
Ở chiều ngược lại, Mẫu số được mở rộng với nhiều nguồn vốn hơn. Ngoài tiền gửi của tổ chức và cá nhân, Mẫu số còn bao gồm trái phiếu trong nước đủ điều kiện tính vào vốn cấp 2; vốn nhận ủy thác cấp tín dụng mà ngân hàng chịu rủi ro; nguồn vốn vay nước ngoài, bao gồm cả trái phiếu phát hành trên thị trường quốc tế; vốn điều lệ, các quỹ, thặng dư vốn cổ phần và lợi nhuận chưa phân phối.
Khoản chênh lệch dương trong quan hệ liên ngân hàng cũng được tính vào Mẫu số.
Dù vậy, không phải toàn bộ nguồn vốn đều được đưa vào phép tính. Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác, tiền ký quỹ và vốn chuyên dùng, tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước đều bị loại khỏi Mẫu số. Đối với tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước, tỷ lệ loại trừ là 80%, hoặc theo tỷ lệ khác do Thống đốc NHNN quyết định.
Ngoài các khoản loại trừ trực tiếp, Mẫu số còn được điều chỉnh giảm bởi dư nợ cấp tín dụng ngoài hoạt động cho vay, dư đầu tư trái phiếu doanh nghiệp và dư nợ ủy thác cho tổ chức tín dụng khác cấp tín dụng không phải hoạt động cho vay.
Riêng trái phiếu do tổ chức tín dụng trong nước phát hành và trái phiếu đặc biệt của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) không thuộc nhóm bị khấu trừ khỏi Mẫu số.