| Dư nợ tín dụng đang tăng, song các ngân hàng vẫn hết sức cảnh giác với nợ xấu. Ảnh: Nguyễn Tấn |
Sức hấp thụ vốn được cải thiện
Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Đoàn Thái Sơn cho biết, tính đến ngày 29/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,03 triệu tỷ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025, bổ sung thêm cho nền kinh tế khoảng 1,4 triệu tỷ đồng so với cuối năm 2025. Cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế, vốn tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Đến cuối tháng 5/2026, khoảng 77% dư nợ của nền kinh tế phục vụ lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Một số lĩnh vực ưu tiên chiếm tỷ trọng lớn như lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn (chiếm 22,09%), doanh nghiệp nhỏ và vừa (chiếm 19,84%); hoặc có tốc độ tăng trưởng cao như xuất khẩu (tăng 20,53%), doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao (tăng 26,36%).
Lãnh đạo NHNN cho hay, ngành tiếp tục thực hiện các giải pháp điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô nhằm góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Năm 2026, NHNN dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%, có điều chỉnh tăng, giảm phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế, đảm bảo kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD).
Ngày 31/12/2025, NHNN đã có văn bản gửi các TCTD thông báo công khai, minh bạch về nguyên tắc giao tăng trưởng tín dụng năm 2026 để các TCTD chủ động triển khai thực hiện. Đồng thời, NHNN cũng yêu cầu các TCTD kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, lĩnh vực bất động sản trong năm 2026 nhằm hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng của nền kinh tế, đồng thời đảm bảo ổn định thanh khoản thị trường tiền tệ và an toàn hoạt động hệ thống các TCTD.
Theo Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước, từ ngày 1/7, tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn sẽ tăng lên 40%, thay vì mức 30% như trước. Được biết, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn đã giảm dần từ 40% xuống 37%, tiếp tục hạ về 34% và chính thức áp dụng mức 30% kể từ ngày 1/10/2023. Trong Thông tư vừa ban hành, tỷ lệ này trở lại mức 40%, tương đương ngưỡng áp dụng giai đoạn 2020-2021.
Theo đánh giá của các chuyên gia, việc sửa tỷ lệ này sẽ giúp các ngân hàng có thêm nguồn vốn để cho vay trung, dài hạn. Bên cạnh đó, việc được sử dụng nhiều hơn vốn ngắn hạn với chi phí thấp để cho vay trung, dài hạn cũng sẽ khiến mặt bằng lãi suất giảm. Một khi room tín dụng và trần vốn ngắn hạn cùng nới, dư địa không chia đều. Quy mô giải ngân, nguồn vốn và chất lượng tài sản là các biến số phân hóa ngân hàng.
Kiểm soát rủi ro nợ xấu
Mặc dù nới trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn và nới lỏng room tín dụng với các dự án ưu tiên nói trên, song NHNN cũng khẳng định, tăng thêm dư địa cung ứng vốn cho các ngân hàng không có nghĩa là nới lỏng chất lượng tín dụng, nới lỏng quản trị. Theo lãnh đạo NHNN, không đánh đổi rủi ro lấy tăng trưởng. NHNN hỗ trợ tích cực thanh khoản cho các ngân hàng, tạo dư địa cho các ngân hàng tăng trưởng thêm dư nợ thông qua các nghiệp vụ trên thị trường mở (OMO), nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ...
“Về dài hạn, NHNN đã tính toán phương án tái cấp vốn trên cơ sở đảm bảo tín dụng đi đúng và trúng mục tiêu, song không có nghĩa nới lỏng quản lý chất lượng tín dụng. Các tổ chức tín dụng vẫn phải tuân thủ chặt chẽ quy trình để đảm bảo chất lượng tín dụng như hiện nay”, đại diện NHNN nói.
Theo các chuyên gia phân tích, dù Thông tư 25 sẽ tăng làm gia tăng rủi ro thanh khoản, nhưng trong điều kiện nền kinh tế chịu áp lực tăng trưởng cao như hiện nay, đây là sự sửa đổi cần thiết. Các lĩnh vực được hưởng lợi nhất là ngân hàng (biên lợi nhuận được cải thiện, thêm dư địa mở rộng tín dụng) và các lĩnh vực sử dụng nhiều vốn dài hạn như bất động sản; công nghiệp chế biến, chế tạo; các dự án hạ tầng, khu công nghiệp... Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng (Trường đại học Nguyễn Trãi) cho rằng, đây không phải là một sự nới lỏng đơn thuần, mà là một bước điều chỉnh mang tính linh hoạt, tạo thêm dư địa tài chính cho nền kinh tế trong bối cảnh nhu cầu vốn trung và dài hạn đang gia tăng mạnh mẽ.
Bản chất hoạt động ngân hàng là huy động vốn chủ yếu ở kỳ hạn ngắn, nhưng cho vay với thời hạn dài hơn. Khi tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn được nâng lên, khoảng chênh lệch kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn cũng gia tăng. Đối với thị trường bất động sản, chính sách mới cũng có thể tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các dự án có tính khả thi cao, đặc biệt là nhà ở xã hội, bất động sản công nghiệp và những dự án bất động sản đã hoàn thiện pháp lý. Trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn dài hạn, việc mở rộng dư địa tín dụng có thể góp phần thúc đẩy nguồn cung mới cho thị trường.
Ông Phương Nguyễn, CFA Công ty TNHH Chứng khoán Shinhan Việt Nam cũng nhận định, đối với chất lượng tài sản, tỷ lệ nợ xấu ngành ngân hàng thường có xu hướng tăng nhẹ trong quý I do các ngân hàng tập trung xử lý nợ nhiều hơn vào giai đoạn cuối năm trước. Với dữ liệu hiện tại, còn khá sớm để đưa ra kết luận về xu hướng chất lượng tài sản của cả năm 2026. Tính đến cuối quý I/2026, tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng niêm yết duy trì ở khoảng 1,9%, tương đối ổn định trong 3 quý gần đây, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu chỉ đạt gần 83%.
Tuy nhiên, theo ông Phương, xét trên dữ liệu lịch sử, mặt bằng lãi suất cao thời gian gần đây thường tạo áp lực nhất định lên chất lượng tài sản. Do đó, đây sẽ tiếp tục là chỉ tiêu cần được ngân hàng theo dõi các quý tới.