Y tế - Sức khỏe
Tin mới y tế ngày 1/10: Chủ động dự phòng để giảm biến chứng ở người mắc bệnh mạn tính
D.Ngân - 01/10/2026 08:14
Người mắc đái tháo đường, bệnh thận mạn hoặc nhiều bệnh nền khác không chỉ đối mặt với nguy cơ biến chứng của chính bệnh lý đang mắc mà còn dễ bị tổn thương hơn trước các bệnh truyền nhiễm.

Chủ động dự phòng để giảm biến chứng ở người mắc bệnh mạn tính

Tại Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ 20 của Hội Tiết niệu - Thận học Việt Nam, với sự đồng hành của GSK Việt Nam, nhiều nội dung liên quan đến chăm sóc người mắc bệnh mạn tính trước nguy cơ bệnh truyền nhiễm được cập nhật, trong đó đáng chú ý là vai trò của dự phòng chủ động và tiêm chủng trong quản lý người bệnh lâu dài.

Các chuyên gia cho biết, ở người mắc đái tháo đường hoặc bệnh thận mạn, chức năng miễn dịch có thể suy giảm, khiến cơ thể kém hiệu quả hơn trong việc chống lại các tác nhân gây bệnh.

Dự phòng nhiễm trùng cần được xem là một phần của chăm sóc toàn diện, không tách rời với điều trị bệnh nền.

Một số nghiên cứu cho thấy người mắc đái tháo đường có xu hướng gặp các nhiễm trùng đường hô hấp và viêm phổi thường xuyên hơn, nguy cơ mắc zona thần kinh cao hơn 38%, đồng thời có thể đối mặt với nguy cơ mắc virus hợp bào hô hấp RSV mức độ nặng cao hơn ở nhóm lớn tuổi.

Với người mắc bệnh thận mạn, nguy cơ mắc zona thần kinh được ghi nhận tăng khoảng 29%, đồng thời nguy cơ nhiễm trùng và diễn tiến thành nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính nặng cũng cao hơn.

PGS-TS.Nguyễn Khoa Diệu Vân, Phó Chủ tịch Hội Nội tiết - Đái tháo đường Việt Nam cho rằng, suy giảm miễn dịch theo tuổi cùng với tác động của bệnh nền khiến người bệnh dễ gặp các nhiễm trùng nặng hơn.

Theo bà, người mắc đái tháo đường cần nhìn nhận tiêm chủng như một phần trong “lá chắn miễn dịch”, tương tự như việc kiểm soát đường huyết, huyết áp và mỡ máu trong quá trình quản lý bệnh.

Cách tiếp cận này cũng phù hợp với các khuyến cáo chuyên môn quốc tế. Hướng dẫn KDIGO năm 2024 về bệnh thận mạn đã đề cập chương trình tiêm chủng như một giải pháp can thiệp chủ động đối với người bệnh.

Tại Việt Nam, “Khuyến cáo thực hành tiêm chủng cho người mắc bệnh thận mạn” do Hội Tiết niệu - Thận học Việt Nam công bố tháng 8/2026 cũng đi theo định hướng tăng cường dự phòng trong quản lý bệnh mạn tính.

GS-TS.Võ Tam, Phó Chủ tịch Hội Tiết niệu - Thận học Việt Nam cho rằng, việc đánh giá nguy cơ và tư vấn dự phòng cần được lồng ghép vào quá trình theo dõi lâu dài, dựa trên tình trạng sức khỏe, độ tuổi, bệnh nền và nhu cầu thực tế của từng người bệnh.

Theo đó, bác sỹ có thể rà soát lịch sử tiêm chủng, đánh giá nguy cơ nhiễm trùng và tư vấn các biện pháp dự phòng phù hợp thay vì chỉ tập trung vào kiểm soát chỉ số bệnh lý đang mắc.

Định hướng này cũng được thể hiện trong Quyết định 1983/QĐ-BYT ngày 1/7/2026 của Bộ Y tế về hướng dẫn kiểm soát yếu tố nguy cơ, người có yếu tố nguy cơ và người mắc bệnh không lây nhiễm tại cộng đồng. Trong đó, tiêm chủng được đề cập như một trong những biện pháp dự phòng đối với các bệnh có thể phòng ngừa như viêm gan B, HPV, RSV, cúm, phế cầu và zona thần kinh.

Điểm đáng chú ý là với người cao tuổi hoặc người có bệnh nền, nguy cơ không chỉ đến từ chính bệnh mạn tính mà còn từ các đợt nhiễm trùng có thể làm tình trạng sức khỏe xấu đi nhanh hơn, làm tăng nguy cơ nhập viện và kéo dài thời gian hồi phục.

Vì vậy, dự phòng nhiễm trùng cần được xem là một phần của chăm sóc toàn diện, không tách rời với điều trị bệnh nền. Việc kiểm soát tốt đường huyết, huyết áp, mỡ máu, chức năng thận cần đi cùng với đánh giá nguy cơ lây nhiễm, lịch sử tiêm chủng và khả năng tiếp cận các biện pháp phòng bệnh phù hợp.

Đau đầu kéo dài 7 ngày, nam thanh niên phát hiện tụ máu dưới màng cứng lớn

Nam bệnh nhân V.N.T., 32 tuổi, ở Thái Nguyên, đến Phòng khám Đa khoa MEDLATEC Tây Hồ sau 7 ngày liên tục đau đầu. Trước đó, người bệnh không có bệnh mạn tính và không ghi nhận tiền sử gia đình mắc bệnh di truyền.

Khoảng 6 ngày trước khi đến khám, cơn đau đầu xuất hiện âm ỉ, kéo dài liên tục và tăng dần theo thời gian. Người bệnh đã sử dụng thuốc giảm đau thông thường nhưng triệu chứng không cải thiện. Đến ngày thứ 7, cơn đau trở nên dữ dội hơn, kèm buồn nôn và mệt nhiều.

Điều đáng chú ý là dù đau đầu tăng dần, người bệnh chưa xuất hiện các biểu hiện thần kinh rõ rệt như nhìn mờ, yếu liệt tay chân hoặc rối loạn cảm giác. Qua thăm khám, bệnh nhân vẫn tỉnh táo, tiếp xúc tốt, đạt 15/15 điểm Glasgow - thang điểm đánh giá mức độ ý thức thông qua khả năng mở mắt, đáp ứng lời nói và vận động.

Khám thần kinh cũng chưa ghi nhận bất thường rõ về vận động, cảm giác hay chức năng các dây thần kinh sọ, phản xạ hai bên cân đối và không có dấu hiệu cứng gáy. Tuy nhiên, bác sỹ ghi nhận dấu hiệu gợi ý tăng áp lực nội sọ trong bối cảnh cơn đau đầu kéo dài, ngày càng tăng về mức độ.

Từ những dấu hiệu này, BSCKI Hoàng Anh Tuấn, chuyên khoa Thần kinh, Phòng khám Đa khoa MEDLATEC Tây Hồ chỉ định chụp MRI sọ não để tìm nguyên nhân.

Kết quả cho thấy người bệnh có tụ máu dưới màng cứng bán cầu trái ở giai đoạn bán cấp sớm, với bề dày lên tới 19 mm. Khối tụ máu đã tạo hiệu ứng choán chỗ, chèn ép não thất bên trái và đẩy đường giữa sang phải 10 mm.

Máu tụ dưới màng cứng là tình trạng máu tích tụ trong khoang nằm giữa các lớp màng bao quanh não. Tùy nguyên nhân, kích thước và tốc độ tiến triển, tổn thương có thể diễn biến nhanh, cần xử trí cấp cứu, hoặc tiến triển âm thầm trong một khoảng thời gian dài.

Theo bác sỹ Tuấn, đau đầu kéo dài hoặc có xu hướng tăng dần là một trong những dấu hiệu cần lưu ý. Người bệnh có thể xuất hiện buồn nôn, nôn, buồn ngủ, lú lẫn, thay đổi trí nhớ, yếu liệt hoặc rối loạn ngôn ngữ, nhưng biểu hiện lâm sàng có thể rất khác nhau tùy vị trí và mức độ chèn ép của khối máu tụ.

Một số trường hợp vẫn tỉnh táo và chưa có dấu hiệu thần kinh rõ rệt dù tổn thương trong sọ đã đáng kể. “Điều đáng lưu ý là khi khối máu tụ lớn dần, nó sẽ chiếm thêm khoảng trống vốn rất hạn chế trong hộp sọ, từ đó chèn ép mô não và làm tăng áp lực nội sọ. Nếu tình trạng chèn ép tiếp tục tiến triển, người bệnh có thể nhanh chóng xuất hiện rối loạn ý thức, yếu liệt, co giật hoặc những biến chứng thần kinh nghiêm trọng hơn”, bác sỹ Tuấn cho biết.

Ở trường hợp này, khối tụ máu dày 19 mm không chỉ gây hiệu ứng choán chỗ mà còn đẩy đường giữa sang phải 10 mm. Đường giữa là mốc giải phẫu chia hai bán cầu não, vì vậy sự dịch chuyển của mốc này cho thấy tổn thương đang tạo áp lực đáng kể lên các cấu trúc trong sọ.

Theo hướng dẫn của Brain Trauma Foundation được bác sỹ dẫn lại, đối với tụ máu dưới màng cứng cấp tính, khối máu tụ dày trên 10 mm hoặc gây lệch đường giữa trên 5 mm là những tiêu chí quan trọng để cân nhắc phẫu thuật cấp cứu.

“Không thể chỉ dựa vào việc người bệnh còn tỉnh táo hoặc chưa có yếu liệt để đánh giá tổn thương nhẹ hay nặng. Điểm Glasgow phản ánh mức độ ý thức tại thời điểm thăm khám, còn quyết định xử trí phải dựa trên tổng thể triệu chứng, khám thần kinh và hình ảnh học, đặc biệt là kích thước khối máu tụ và mức độ chèn ép”, bác sỹ Tuấn phân tích.

Với những khối máu tụ lớn gây chèn ép não, người bệnh có thể cần phẫu thuật lấy máu tụ nhằm giải phóng áp lực. Phương pháp và thời điểm can thiệp phụ thuộc vào kích thước, vị trí tổn thương, mức độ chèn ép và tình trạng thần kinh thực tế.

Theo bác sỹ Tuấn, tụ máu dưới màng cứng không chỉ gặp ở người cao tuổi hoặc sau những chấn thương đầu rõ ràng. Người trẻ, thậm chí không nhớ từng va đập vùng đầu, vẫn có thể xuất hiện tình trạng này.

Ở nam bệnh nhân 32 tuổi, không ghi nhận tiền sử chấn thương đầu rõ ràng và trước đó khỏe mạnh, do đó bác sỹ đặt ra nhiều khả năng cần tiếp tục được đánh giá như chấn thương nhẹ không được ghi nhớ, vỡ nang màng nhện, bất thường mạch máu não, hạ áp lực nội sọ tự phát, rối loạn đông máu hoặc các bệnh lý huyết học.

Chẩn đoán hình ảnh, đặc biệt là MRI hoặc CT trong những trường hợp có chỉ định, có vai trò quan trọng trong phát hiện tổn thương nội sọ và đánh giá mức độ chèn ép để định hướng xử trí.

Bác sỹ khuyến cáo, người dân không nên xem nhẹ tình trạng đau đầu kéo dài, đặc biệt nếu cơn đau tăng dần, không đáp ứng với thuốc giảm đau thông thường hoặc đi kèm buồn nôn, nôn, rối loạn ý thức, yếu liệt hay các dấu hiệu thần kinh bất thường. Việc vẫn tỉnh táo, còn sinh hoạt được hoặc chưa xuất hiện yếu liệt không đồng nghĩa với việc có thể loại trừ tổn thương nghiêm trọng trong sọ.

Rối loạn vận động sau nhiều năm dùng thuốc, dễ nhầm Parkinson

Bà Lệ, 56 tuổi, thường xuyên sử dụng thuốc điều trị rối loạn giấc ngủ và các thuốc tác động lên hệ thần kinh trong khoảng bảy năm. Thời gian gần đây, bà liên tục xuất hiện cảm giác khó chịu ở chân, buộc phải cử động hoặc đi lại mới thấy dễ chịu hơn, thậm chí không thể ngồi yên trong lúc xem tivi hay ăn cơm.

Trước đó, người bệnh từng được chẩn đoán mắc Parkinson và điều trị nhưng các triệu chứng không cải thiện, tình trạng bứt rứt và rối loạn vận động ngày càng rõ. Sau khi được kiểm tra chuyên sâu tại viện, bác sỹ xác định các biểu hiện không phải do Parkinson nguyên phát mà liên quan đến hội chứng ngoại tháp do tác dụng phụ của thuốc sử dụng kéo dài.

BS.CKII Thân Thị Minh Trung, chuyên khoa thần kinh khi thăm khám cho bệnh nhân cho hay, hội chứng ngoại tháp là nhóm rối loạn vận động có thể biểu hiện bằng cứng cơ, giảm vận động, run tay chân, bước đi chậm, bồn chồn không thể ngồi yên hoặc xuất hiện những cử động bất thường ở vùng mặt, miệng và lưỡi.

Theo bác sỹ Trung, một số thuốc tác động lên hệ thần kinh có thể ảnh hưởng đến hoạt động của dopamine - chất dẫn truyền thần kinh giữ vai trò quan trọng trong kiểm soát vận động, cảm xúc và hành vi. Việc ức chế hệ dopamine trong thời gian dài có thể phá vỡ sự cân bằng giữa các trung tâm vận động của não, từ đó làm xuất hiện những rối loạn vận động được xếp vào hội chứng ngoại tháp.

Ở trường hợp của bà Lệ, triệu chứng nổi bật là hội chứng bồn chồn vận động, còn gọi là akathisia. Đây không đơn thuần là cảm giác sốt ruột hay lo lắng thông thường mà là trạng thái khó chịu xuất phát từ rối loạn hoạt động thần kinh, khiến người bệnh có cảm giác thôi thúc phải di chuyển liên tục và rất khó giữ nguyên một tư thế trong thời gian dài.

Một số người bệnh mô tả cảm giác như có dòng điện chạy trong chân hoặc cảm giác khó chịu tăng lên rõ rệt nếu cố ngồi yên. Bên cạnh đó, các cử động bất thường ở vùng miệng và lưỡi có thể là biểu hiện của rối loạn vận động muộn - một biến chứng có thể xuất hiện sau thời gian dài sử dụng thuốc tác động lên hệ thần kinh.

Đây cũng là một trong những dạng tác dụng phụ khó điều trị hơn do những thay đổi trong hệ dopamine có thể đã tồn tại kéo dài. Điểm đáng lưu ý là hội chứng ngoại tháp có thể bị nhầm với Parkinson hoặc được cho là biểu hiện của tuổi tác. Sự tương đồng về các triệu chứng như run, cứng cơ, giảm vận động hoặc thay đổi dáng đi có thể khiến người bệnh chậm được xác định đúng nguyên nhân và tiếp tục sử dụng phác đồ chưa phù hợp.

Vì vậy, việc chẩn đoán cần dựa trên khai thác kỹ tiền sử dùng thuốc, thời gian xuất hiện triệu chứng, thăm khám thần kinh và đánh giá mối liên quan giữa thuốc với các biểu hiện vận động. Tùy từng trường hợp, người bệnh có thể được chỉ định xét nghiệm, chụp MRI, CT hoặc các thăm dò chuyên sâu để loại trừ những nguyên nhân khác.

Theo bác sỹ Trung, điều trị hội chứng ngoại tháp do thuốc không đơn giản là ngưng thuốc ngay lập tức. Người bệnh cần được đánh giá toàn diện để xác định loại thuốc liên quan, cân nhắc điều chỉnh liều, thay thế thuốc hoặc bổ sung các thuốc kiểm soát triệu chứng phù hợp.

Mục tiêu điều trị là giảm cảm giác bứt rứt, cải thiện khả năng vận động và hạn chế tiến triển của các cử động bất thường. Quá trình hồi phục có thể kéo dài nhiều tuần đến nhiều tháng và cần được theo dõi chặt chẽ bởi bác sỹ chuyên khoa thần kinh.

Sau khi được điều chỉnh phác đồ, tình trạng bồn chồn vận động của bà Lệ dần cải thiện, khả năng ngồi yên tốt hơn và các cử động bất thường vùng miệng giảm đáng kể. Người bệnh tiếp tục được theo dõi định kỳ để đánh giá đáp ứng và điều chỉnh thuốc phù hợp.

Bác sỹ khuyến cáo người dân không nên tự ý sử dụng hoặc kéo dài các thuốc điều trị mất ngủ, lo âu, trầm cảm và các bệnh lý tâm thần khi chưa có chỉ định hoặc chưa được theo dõi chuyên môn. Việc dùng thuốc trong thời gian dài, đặc biệt với các thuốc tác động lên hệ thần kinh, cần được đánh giá định kỳ nhằm phát hiện sớm tác dụng không mong muốn.

Khi xuất hiện các biểu hiện như bứt rứt không thể ngồi yên, run tay chân, cứng cơ, vận động chậm hoặc có cử động bất thường ở môi, miệng, lưỡi, người bệnh nên đi khám chuyên khoa thần kinh để được xác định nguyên nhân và điều trị phù hợp, thay vì tự ý tăng, giảm hoặc ngừng thuốc.

Tin liên quan
Tin khác