Y tế - Sức khỏe
Tin mới y tế ngày 17/10: Khàn tiếng kéo dài, người đàn ông bất ngờ phát hiện bệnh tim bẩm sinh hiếm gặp
D.Ngân - 17/10/2026 09:57
Đi khám vì khàn tiếng kéo dài suốt một tháng, người đàn ông 36 tuổi bất ngờ được phát hiện mắc bệnh tim bẩm sinh gây chèn ép dây thần kinh thanh quản.

Khàn tiếng kéo dài, người đàn ông bất ngờ phát hiện bệnh tim bẩm sinh hiếm gặp

Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC vừa phát hiện một trường hợp mắc hội chứng Ortner hiếm gặp do bệnh tim bẩm sinh, với biểu hiện ban đầu chỉ là khàn tiếng kéo dài.

Bệnh nhân N.T.H. (36 tuổi, trú tại Quảng Ninh) đến bệnh viện thăm khám sau khoảng một tháng bị khàn tiếng, tình trạng ngày càng tăng dần. Kết quả khám chuyên khoa tai mũi họng ghi nhận người bệnh bị liệt dây thanh trái bất thường. Nghi ngờ nguyên nhân không xuất phát từ bệnh lý tai mũi họng thông thường, các bác sỹ tiếp tục chỉ định khám chuyên khoa tim mạch.

Ảnh minh họa.

Qua thăm khám, bác sỹ nghi ngờ bệnh nhân mắc thông liên nhĩ. Kết quả siêu âm tim xác định người bệnh có lỗ thông liên nhĩ thứ phát, đường kính khoảng 12 - 14 mm, tạo luồng máu bất thường từ tâm nhĩ trái sang tâm nhĩ phải. Tình trạng này khiến các buồng tim bên phải và gốc động mạch phổi giãn rộng, đồng thời gây tăng áp lực động mạch phổi nhẹ.

Đáng chú ý, động mạch phổi giãn đã chèn ép dây thần kinh thanh quản quặt ngược bên trái, dẫn đến liệt dây thanh và gây khàn tiếng. Từ các kết quả thăm khám, bệnh nhân được chẩn đoán mắc hội chứng Ortner do thông liên nhĩ, một biến chứng rất hiếm gặp của bệnh tim bẩm sinh.

Theo BSCKII Nguyễn Quang Minh, Trưởng chuyên khoa Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC, hội chứng Ortner, còn gọi là hội chứng tim mạch gây khàn tiếng, được mô tả lần đầu năm 1897. Đây là tình trạng liệt dây thần kinh thanh quản quặt ngược bên trái do bị chèn ép hoặc kéo căng bởi các cấu trúc tim, mạch máu giãn rộng trong lồng ngực.

Dây thần kinh này có đường đi đặc biệt, vòng dưới quai động mạch chủ, gần động mạch phổi trước khi đi ngược lên cổ để chi phối hoạt động của thanh quản. Vì vậy, khi các cấu trúc tim mạch lân cận giãn lớn, dây thần kinh có thể bị chèn ép, gây ảnh hưởng đến khả năng phát âm.

Hội chứng Ortner có thể liên quan đến nhiều bệnh lý như phình động mạch chủ ngực, giãn động mạch phổi do tăng áp phổi, hẹp van hai lá hoặc các bệnh tim bẩm sinh như thông liên nhĩ, thông liên thất, còn ống động mạch. Trong đó, thông liên nhĩ gây hội chứng Ortner như trường hợp bệnh nhân H. được đánh giá là rất hiếm gặp.

Bác sỹ Minh giải thích, khi lỗ thông liên nhĩ tồn tại trong thời gian dài, lượng máu từ tâm nhĩ trái sang tâm nhĩ phải tăng lên, làm tăng lưu lượng máu lên phổi. Theo thời gian, động mạch phổi có thể giãn rộng, chèn ép dây thần kinh thanh quản quặt ngược trái và gây khàn tiếng.

Sau hội chẩn chuyên khoa, bệnh nhân được chỉ định can thiệp bít lỗ thông liên nhĩ bằng dụng cụ qua đường ống thông tim. Việc xử lý nguyên nhân tim mạch có ý nghĩa quan trọng nhằm giảm tình trạng chèn ép dây thần kinh và tạo điều kiện phục hồi chức năng dây thanh.

Tuy nhiên, khả năng hồi phục giọng nói phụ thuộc vào thời gian mắc bệnh và mức độ tổn thương thần kinh. Những trường hợp được phát hiện, can thiệp sớm thường có tiên lượng thuận lợi hơn, trong khi tình trạng chèn ép kéo dài có thể gây tổn thương khó hồi phục.

Từ trường hợp trên, BSCKII Nguyễn Quang Minh khuyến cáo người dân không nên chủ quan với tình trạng khàn tiếng kéo dài trên hai tuần, đặc biệt khi không có biểu hiện viêm nhiễm đường hô hấp rõ ràng. Nếu nội soi phát hiện liệt dây thanh, người bệnh cần được đánh giá toàn diện để tìm nguyên nhân, bao gồm cả các bệnh lý tiềm ẩn trong lồng ngực và hệ tim mạch khi có chỉ định.

Theo chuyên gia, một số bệnh tim bẩm sinh như thông liên nhĩ có thể tiến triển âm thầm trong nhiều năm, triệu chứng không rõ ràng cho đến khi xuất hiện biến chứng. Thăm khám sức khỏe định kỳ và phát hiện sớm những bất thường là yếu tố quan trọng giúp người bệnh được điều trị kịp thời, hạn chế nguy cơ tổn thương lâu dài.

Trường hợp của bệnh nhân H. cho thấy, một triệu chứng tưởng chừng chỉ liên quan đến giọng nói lại có thể bắt nguồn từ bất thường tim mạch tồn tại nhiều năm. Việc tìm đúng nguyên nhân, thay vì chỉ tập trung xử lý biểu hiện bên ngoài, không chỉ giúp lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp mà còn tránh bỏ lỡ cơ hội can thiệp sớm đối với những bệnh lý tiềm ẩn nguy hiểm.

Kết hợp hai kỹ thuật ít xâm lấn, bảo tồn cơ hội làm mẹ cho phụ nữ trẻ

Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 vừa điều trị thành công cho bệnh nhân 29 tuổi mắc đồng thời u xơ tử cung và u quái buồng trứng kích thước lớn bằng phương pháp đốt sóng cao tần kết hợp phẫu thuật nội soi, giúp kiểm soát khối u, hạn chế tổn thương cơ quan sinh sản.

Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho biết, các bác sỹ vừa áp dụng thành công phương pháp điều trị kết hợp giữa đốt u xơ tử cung bằng sóng cao tần (RFA) và phẫu thuật nội soi bóc u quái buồng trứng cho một bệnh nhân trẻ, hướng tới bảo tồn chức năng sinh sản và giảm thiểu tổn thương do can thiệp.

Bệnh nhân Đ.T.H.Q. (29 tuổi, chưa lập gia đình) đến bệnh viện thăm khám do tình trạng kinh nguyệt kéo dài khoảng 7 ngày, kèm đau bụng. Kết quả chụp cộng hưởng từ (MRI) phát hiện khối u xơ tử cung dưới niêm mạc kích thước 61 × 47 × 61 mm, phân loại FIGO L2, đẩy lồi vào buồng tử cung. Đồng thời, người bệnh còn có khối u quái buồng trứng kích thước lớn, khoảng 121 × 65 × 131 mm.

Việc đồng thời xuất hiện hai khối u với kích thước và vị trí phức tạp đặt ra thách thức trong lựa chọn phương pháp điều trị, đặc biệt khi bệnh nhân còn trẻ và mong muốn mang thai trong tương lai. Các bác sỹ phải cân nhắc giữa hiệu quả loại bỏ, kiểm soát tổn thương và mục tiêu bảo tồn tối đa chức năng tử cung, buồng trứng.

Sau hội chẩn, Khoa Phụ sản phối hợp với Khoa Điện quang can thiệp xây dựng phương án điều trị kết hợp. Đối với khối u xơ nằm ở vị trí đẩy lồi buồng tử cung, phẫu thuật bóc u có thể gây tổn thương niêm mạc và để lại sẹo trên cơ tử cung. Vì vậy, ê-kíp quyết định lựa chọn kỹ thuật đốt u xơ bằng sóng cao tần nhằm hạn chế xâm lấn.

Theo TS.BS Lê Duy Dũng, Chủ nhiệm Khoa Điện quang can thiệp, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, RFA là kỹ thuật đưa kim điện cực vào khối u dưới hướng dẫn của phương tiện chẩn đoán hình ảnh. Năng lượng sóng cao tần tạo nhiệt, gây hoại tử đông mô u, giúp khối u giảm dần thể tích theo thời gian, qua đó cải thiện các triệu chứng rong kinh, đau bụng hoặc chèn ép.

Ưu điểm của phương pháp là không cần rạch thành bụng, không tạo đường sẹo bóc u trên cơ tử cung. Đây là yếu tố quan trọng đối với phụ nữ còn nguyện vọng sinh con, bởi tổn thương thành tử cung và quá trình hình thành sẹo sau phẫu thuật có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương án mang thai, sinh nở trong tương lai.

Đối với khối u quái buồng trứng có đường kính lớn nhất khoảng 13 cm, các bác sỹ chỉ định phẫu thuật nội soi bóc u nhằm loại bỏ tổn thương, đồng thời bảo tồn tối đa mô buồng trứng lành. Ca phẫu thuật do ê-kíp của BSCKII Trần Thanh Hương, Chủ nhiệm Khoa Phụ sản thực hiện.

Phẫu thuật nội soi với các đường rạch nhỏ giúp hạn chế mức độ xâm lấn so với mổ mở trong những trường hợp phù hợp. Đặc biệt, việc ưu tiên bóc u thay vì cắt bỏ toàn bộ buồng trứng có ý nghĩa quan trọng trong duy trì chức năng buồng trứng và tiềm năng sinh sản của người bệnh.

Sau điều trị, bệnh nhân được theo dõi và tái khám định kỳ. Kết quả chụp MRI sau 6 tháng ghi nhận thể tích khối u xơ tử cung giảm khoảng 83% so với trước can thiệp. Tình trạng kinh nguyệt trở lại đều đặn, các triệu chứng đau bụng và rối loạn kinh nguyệt trước đó được cải thiện.

Theo các bác sỹ, điều trị u xơ tử cung và u buồng trứng cần được cá thể hóa dựa trên đặc điểm tổn thương, độ tuổi, tình trạng sức khỏe và nguyện vọng sinh sản của từng người bệnh. Không phải trường hợp nào cũng phù hợp với kỹ thuật đốt sóng cao tần hoặc phẫu thuật bảo tồn.

Thành công của ca bệnh cho thấy hiệu quả bước đầu của việc phối hợp các kỹ thuật ít xâm lấn trong điều trị bệnh lý phụ khoa phức tạp. Đối với phụ nữ trẻ, mục tiêu điều trị không chỉ là kiểm soát khối u mà còn phải cân nhắc bảo vệ chức năng tử cung, buồng trứng và duy trì cơ hội mang thai trong tương lai. Việc lựa chọn phương pháp can thiệp phù hợp vì thế có ý nghĩa quan trọng, giúp người bệnh được điều trị hiệu quả mà vẫn gìn giữ tối đa khả năng làm mẹ.

Liên tiếp 4 ca nhiễm liên cầu lợn, cảnh báo nguy cơ điếc và suy đa tạng

Chỉ trong khoảng hai tuần, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương tiếp nhận 4 bệnh nhân nhiễm liên cầu lợn, trong đó có trường hợp nguy kịch do sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng. Các chuyên gia cảnh báo, căn bệnh này có thể gây điếc, hoại tử chi, thậm chí tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương vừa liên tiếp tiếp nhận 4 trường hợp nhiễm liên cầu lợn với những biểu hiện và mức độ tổn thương khác nhau. Đáng chú ý, một bệnh nhân nhập viện trong tình trạng sốc nhiễm khuẩn nghiêm trọng, phải thở máy và lọc máu liên tục để duy trì sự sống.

Theo Ths. Nguyễn Đức Minh, Khoa Cấp cứu, một số bệnh nhân có biểu hiện viêm màng não với các triệu chứng sốt, đau đầu dữ dội, lú lẫn, rối loạn ý thức. Sau khi được điều trị bằng kháng sinh phù hợp, tình trạng sức khỏe dần cải thiện, song một số trường hợp vẫn còn đau đầu kéo dài, giảm thính lực, cho thấy nguy cơ để lại di chứng ngay cả khi đã vượt qua giai đoạn cấp tính.

Trường hợp đặc biệt nghiêm trọng là ông P.T.S. (53 tuổi, trú tại Hải Phòng), có thói quen ăn tiết canh. Khoảng hai ngày trước khi nhập viện, bệnh nhân ăn tiết canh, sau đó xuất hiện đau bụng, tiêu chảy nhiều lần và mệt mỏi. Tình trạng nhanh chóng chuyển nặng, huyết áp tụt sâu, được chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng tại cơ sở y tế ban đầu và phải sử dụng thuốc vận mạch trước khi chuyển tuyến.

Khi đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, người bệnh đã trong tình trạng nguy kịch, ý thức lú lẫn, kích thích, toàn thân nổi vân tím, mạch nhanh và huyết áp khó đo. Kết quả xét nghiệm cho thấy tình trạng nhiễm khuẩn nặng, suy thận cấp, tổn thương gan và rối loạn đông máu nghiêm trọng.

Theo bác sỹ Nguyễn Đức Minh, nhiễm liên cầu lợn có thể diễn tiến rất nhanh, đặc biệt khi vi khuẩn xâm nhập vào máu gây nhiễm khuẩn huyết nặng. Tình trạng sốc khiến hệ tuần hoàn suy sụp, các cơ quan không được cung cấp đủ máu và oxy, dẫn đến suy thận, tổn thương gan, suy hô hấp và rối loạn chuyển hóa.

Đặc biệt, rối loạn đông máu có thể gây xuất huyết, hình thành huyết khối trong các mạch máu nhỏ, làm tổn thương da và đầu chi. Ở những trường hợp nghiêm trọng, người bệnh có nguy cơ hoại tử, thậm chí phải cắt cụt chi.

Liên cầu lợn là bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn Streptococcus suis gây ra. Vi khuẩn có thể tồn tại ở lợn ngay cả khi con vật không biểu hiện triệu chứng bệnh. Người có nguy cơ nhiễm khuẩn khi tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch tiết của lợn mang mầm bệnh, đặc biệt qua các vết thương hở, hoặc ăn tiết canh, thịt lợn sống, tái và những sản phẩm chưa được nấu chín kỹ.

Ths.Trần Văn Bắc, Phó Trưởng khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương khuyến cáo người dân tuyệt đối không ăn tiết canh, thịt lợn sống hoặc chưa được nấu chín kỹ. Những người làm nghề chăn nuôi, giết mổ, chế biến thịt lợn cần sử dụng đầy đủ phương tiện bảo hộ, che kín vết thương ngoài da và hạn chế tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch tiết động vật. Không giết mổ, chế biến hoặc sử dụng lợn ốm, lợn chết không rõ nguyên nhân.

Đặc biệt, sau khi ăn thực phẩm từ lợn chưa chín hoặc tiếp xúc với lợn, nếu xuất hiện sốt, đau đầu dữ dội, nôn, tiêu chảy, lú lẫn, rối loạn ý thức hay ban xuất huyết bất thường, người dân cần nhanh chóng đến cơ sở y tế và thông báo rõ tiền sử ăn uống, tiếp xúc để bác sỹ kịp thời chẩn đoán, điều trị.

Các chuyên gia nhấn mạnh, liên cầu lợn không chỉ là mối nguy đối với người trực tiếp chăn nuôi, giết mổ mà còn có thể đe dọa sức khỏe những người có thói quen ăn tiết canh, thịt tái. Từ những ca bệnh nguy kịch vừa được ghi nhận, việc từ bỏ thói quen ăn uống không an toàn và chủ động phòng ngừa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi một món ăn tưởng chừng quen thuộc có thể phải đánh đổi bằng những di chứng suốt đời, thậm chí cả tính mạng.

Tin liên quan
Tin khác