Y tế - Sức khỏe
Tin mới y tế ngày 18/2: Bộ Y tế thông tin tình hình khám chữa bệnh dịp Tết
D.Ngân - 18/02/2026 10:11
Bộ Y tế cho biết, đến 7h ngày 17/2/2026, cả nước có 87.895 bệnh nhân đang điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó 2.992 ca nặng. Một số dịch bệnh phổ biến ghi nhận giảm số mắc so với ngày trước đó.

Gần 88.000 bệnh nhân điều trị ngày mùng 1 Tết, gần 3.000 ca nặng

Bộ Y tế vừa có báo cáo nhanh về công tác y tế dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ gửi Văn phòng Chính phủ ngày 17/2/2026 (mùng 1 Tết). Báo cáo cho thấy, trong ngày đầu năm mới, tình hình dịch bệnh nhìn chung ổn định, một số bệnh truyền nhiễm phổ biến ghi nhận số ca mắc giảm so với ngày trước đó.

Bệnh nhân đang được khám, cấp cứu tại Bệnh viện E dịp Tết.

Theo thông tin tổng hợp từ các Viện Vệ sinh dịch tễ, Viện Pasteur, Sốt rét, Ký sinh trùng, Côn trùng, cùng hệ thống Trung tâm Kiểm soát bệnh tật các tỉnh, thành phố và các đơn vị kiểm dịch y tế quốc tế, dịch sốt xuất huyết ghi nhận 283 trường hợp mắc, không có ca tử vong, giảm 50 trường hợp so với ngày 16/2.

Trong khoảng thời gian từ 0h đến 11h30 ngày 17/2, cả nước ghi nhận 60 trường hợp mắc sốt xuất huyết tại 12 tỉnh, thành phố, giảm 98 trường hợp so với cùng khung giờ ngày 16/2.

Đối với tay chân miệng, ghi nhận 165 trường hợp mắc, không có ca tử vong, giảm 67 trường hợp so với ngày trước đó. Từ 0h đến 11h30 ngày 17/2, cả nước ghi nhận 41 trường hợp tại 15 tỉnh, thành phố, giảm 65 trường hợp so với ngày 16/2.

Bệnh sởi ghi nhận 9 trường hợp mắc, không có ca tử vong, giảm 12 trường hợp so với ngày trước đó. Từ 0h đến 11h30 ngày 17/2, cả nước ghi nhận 2 trường hợp tại 1 tỉnh, giảm 1 trường hợp so với ngày 16/2.

Bộ Y tế cho biết các dịch bệnh khác ổn định, chưa ghi nhận ổ dịch tập trung. Hệ thống trực dịch của các viện khu vực và địa phương được duy trì đầy đủ, bảo đảm chế độ báo cáo theo quy định.

Về công tác khám, chữa bệnh trong dịp Tết, Bộ Y tế thông tin tại thời điểm 7h sáng ngày 17/2, cả nước có 87.895 bệnh nhân đang điều trị tại các cơ sở khám, chữa bệnh, trong đó 2.992 trường hợp nặng.

Trong 24 giờ qua, tổng số bệnh nhân đến khám bệnh là 63.312 người. Tổng số bệnh nhân nhập viện điều trị nội trú là 22.023 trường hợp. Tổng số ca phẫu thuật được thực hiện là 2.652 ca, trong đó có 526 ca phẫu thuật cấp cứu do tai nạn các nguyên nhân.

Bộ Y tế cũng cho biết tổng lượng máu dự trữ tại các cơ sở khám, chữa bệnh trên toàn quốc hiện là 186.038 đơn vị.

Liên quan đến an toàn thực phẩm, theo hệ thống trực an toàn thực phẩm tại 34/34 tỉnh, thành phố và 5 viện khu vực, từ ngày 14/2 đến 17/2, cả nước ghi nhận 1 vụ nghi ngộ độc thực phẩm xảy ra ngày 14/2 do ăn hải sản, có 3 người nhập viện. Đến nay các bệnh nhân đã ổn định sức khỏe và ra viện.

Bộ Y tế cho biết sẽ tiếp tục chỉ đạo các đơn vị theo dõi, nắm thông tin và xử lý kịp thời nếu xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm. Đồng thời, ngành Y tế đã cơ bản chuẩn bị và cung ứng đủ thuốc phục vụ khám, chữa bệnh và phòng, chống dịch bệnh. Đến 12h ngày 17/2, chưa ghi nhận phản ánh nào về thiếu thuốc trong phòng và điều trị bệnh trên cả nước.

Ngày mùng 1 Tết Bính Ngọ ghi nhận dịch bệnh cơ bản ổn định, một số bệnh truyền nhiễm giảm số mắc. Tuy nhiên, số lượng bệnh nhân đang điều trị vẫn ở mức cao, với gần 3.000 ca nặng, cho thấy áp lực thường trực đối với hệ thống y tế trong dịp Tết và yêu cầu duy trì sẵn sàng ứng phó trên toàn tuyến.

Robot Da Vinci Xi mở rộng cơ hội điều trị triệt căn ung thư phổi

Ung thư phổi tiếp tục là một trong những thách thức lớn nhất của y học hiện đại. Theo GLOBOCAN 2022, mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 25.000 ca mắc mới và gần 23.000 trường hợp tử vong do căn bệnh này. Trong bối cảnh đó, việc ứng dụng các công nghệ phẫu thuật tiên tiến không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật, mà còn mở ra cơ hội cải thiện tiên lượng và chất lượng sống cho người bệnh.

Hệ thống robot Da Vinci Xi thế hệ mới đang được ứng dụng trong phẫu thuật ung thư phổi, cho phép thực hiện các ca mổ phức tạp với độ chính xác cao, giảm xâm lấn và rút ngắn thời gian hồi phục.

Trường hợp bà Vân, 52 tuổi, phát hiện khối u thùy trên phổi trái kích thước gần 5cm những ngày giáp Tết là một ví dụ điển hình. Khối u có dấu hiệu ác tính, phát triển nhanh và bắt đầu xâm lấn. Theo PGS-TS.Vũ Hữu Vĩnh, chuyên khoa ung bướu, nếu trì hoãn, nguy cơ mất “thời điểm vàng” phẫu thuật triệt căn là rất lớn.

Thay vì mổ mở truyền thống với đường rạch dài, đau nhiều và thời gian hồi phục kéo dài, êkíp lựa chọn phẫu thuật bằng robot Da Vinci Xi. Hệ thống này cho phép bác sĩ điều khiển các cánh tay robot linh hoạt trong không gian hẹp của lồng ngực, với hình ảnh phóng đại 3D độ phân giải cao, giúp quan sát rõ từng cấu trúc mạch máu và nhu mô phổi.

Một trong những ưu điểm nổi bật là khả năng thao tác chính xác đến từng milimét, giúp bóc tách trọn vẹn khối u và nạo vét hạch cần thiết, đồng thời bảo tồn tối đa mô phổi lành. Robot còn tích hợp dụng cụ hàn mạch, cho phép xử lý mạch máu và cầm máu ngay trong quá trình cắt bỏ, giảm mất máu và hạn chế biến chứng.

Trong ca mổ của bà Vân, êkíp đã thực hiện sinh thiết lạnh ngay trong lúc phẫu thuật. Mẫu bệnh phẩm được làm đông nhanh ở nhiệt độ -20 đến -50 độ C và phân tích dưới kính hiển vi. Sau khoảng 40 phút, kết quả xác định u ác tính giai đoạn 2A, cho phép bác sĩ lập tức triển khai phương án cắt triệt căn trong cùng một lần mổ. Đây là yếu tố quan trọng giúp tối ưu hóa chiến lược điều trị, tránh phải phẫu thuật lại.

Sau phẫu thuật, bệnh nhân có thể đi lại nhẹ nhàng sau một ngày và xuất viện sau 4 ngày. Thời gian hồi phục ngắn không chỉ giúp người bệnh sớm trở lại sinh hoạt bình thường, mà còn tạo điều kiện thuận lợi để tiếp tục các phương pháp điều trị bổ trợ như hóa trị, xạ trị đúng thời điểm.

Theo PGS.Vĩnh, trong điều trị ung thư phổi, phát hiện sớm và can thiệp triệt căn đóng vai trò quyết định tiên lượng. Nếu điều trị ở giai đoạn 1, tỷ lệ sống còn sau 5 năm có thể đạt 80-90%. Ngược lại, ở giai đoạn 3 hoặc 4, tỷ lệ này giảm còn 10-20%, ngay cả khi áp dụng các phương pháp tiên tiến.

Việc ứng dụng robot trong phẫu thuật lồng ngực đánh dấu bước tiến trong xu hướng điều trị cá thể hóa và ít xâm lấn. Công nghệ không thay thế vai trò của phẫu thuật viên, nhưng giúp mở rộng khả năng thao tác trong những vùng giải phẫu phức tạp, giảm tổn thương mô lành và nâng cao độ an toàn.

Tuy nhiên, chuyên gia cũng nhấn mạnh, công nghệ chỉ phát huy tối đa hiệu quả khi người bệnh được phát hiện sớm. Nhóm nguy cơ cao như người trên 50 tuổi, hút thuốc lá lâu năm, làm việc trong môi trường ô nhiễm hoặc có tiền sử gia đình mắc bệnh nên thực hiện tầm soát phổi định kỳ. Các kỹ thuật như chụp CT liều thấp hiện có thể phát hiện tổn thương chỉ vài milimét, tạo cơ hội can thiệp ở giai đoạn sớm.

Sự kết hợp giữa tầm soát chủ động và ứng dụng công nghệ phẫu thuật robot thế hệ mới đang góp phần thay đổi cách tiếp cận trong điều trị ung thư phổi. Từ những ca mổ chính xác hơn, ít đau hơn đến thời gian hồi phục nhanh hơn, kỹ thuật này mở ra triển vọng cải thiện kết quả điều trị và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh ung thư tại Việt Nam.

Sàng lọc phôi mở thêm cánh cửa sinh con khỏe mạnh cho người mang bất thường nhiễm sắc thể

Phụ nữ mang bất thường nhiễm sắc thể có thể đối mặt nguy cơ sảy thai sớm, thai lưu hoặc dị tật bẩm sinh. Kết hợp IVF và sàng lọc phôi trước chuyển giúp lựa chọn phôi khỏe mạnh, nâng tỷ lệ thai kỳ thành công và giảm rủi ro di truyền cho em bé.

Trong y học sinh sản hiện đại, có những cuộc “đấu trí” không diễn ra trên bàn mổ, mà bắt đầu từ cấp độ nhỏ hơn rất nhiều là cấp độ nhiễm sắc thể. Khi nguyên nhân khiến thai kỳ liên tiếp đổ vỡ nằm ở những sai lệch vô hình trong bộ gene, điều quyết định không còn là may mắn, mà là khả năng chẩn đoán đúng và can thiệp đúng kỹ thuật.

Trường hợp của chị Thùy, 36 tuổi, ở Đồng Nai là một minh chứng điển hình. Sau hai lần mang thai tự nhiên nhưng đều thai lưu ở tuần 6-7, vợ chồng chị tìm đến viện thăm khám.

Kết quả xét nghiệm di truyền xác định chị Thùy mang một dạng bất thường cấu trúc nhiễm sắc thể hiếm gặp là chuyển đoạn Robertson giữa nhiễm sắc thể 13 và 14, nghĩa là một phần của hai nhiễm sắc thể “dính” lại với nhau.

Theo Ths.Giang Huỳnh Như, Trung tâm Hỗ trợ sinh sản, đây là dạng chuyển đoạn cân bằng Robertson. Người mang bất thường này thường không có biểu hiện bệnh lý do tổng lượng vật chất di truyền vẫn được bảo toàn. Tuy nhiên, khi mang thai, quá trình phân chia nhiễm sắc thể dễ rối loạn, khiến phôi có thể thừa hoặc thiếu nhiễm sắc thể, từ đó làm tăng nguy cơ sảy thai sớm tái diễn hoặc thai có dị tật bẩm sinh.

Đáng chú ý, đây là dạng bất thường cấu trúc nhiễm sắc thể hay gặp ở phụ nữ sảy thai nhiều lần, song tỷ lệ trong dân số chung chỉ khoảng 2,2%. Vì vậy, nếu không làm xét nghiệm di truyền chuyên sâu, nhiều trường hợp có thể kéo dài hành trình hiếm muộn trong bế tắc mà không tìm được nguyên nhân gốc.

Từ chẩn đoán này, vợ chồng chị Thùy được tư vấn thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) kết hợp xét nghiệm chẩn đoán di truyền phôi tiền làm tổ cho bất thường cấu trúc nhiễm sắc thể (PGT-SR). Đây là kỹ thuật cho phép kiểm tra bộ nhiễm sắc thể của phôi trước khi chuyển vào tử cung, nhằm lựa chọn phôi không mang bất thường cấu trúc hoặc lệch bội.

Đầu tháng 3/2023, sau quá trình kích thích buồng trứng, chọc hút noãn và tạo phôi, vợ chồng chị thu được 5 phôi ngày 5. Đây là giai đoạn phôi phát triển hoàn chỉnh hơn, đủ điều kiện để sinh thiết.

Dưới kính hiển vi đảo ngược gắn hệ thống vi thao tác, chuyên viên phôi học tạo một lỗ nhỏ trên màng ngoài phôi, lấy một số tế bào để xét nghiệm, phân tích di truyền. Kết quả cho thấy 4 phôi có bộ nhiễm sắc thể bình thường, 1 phôi bất thường và phải loại bỏ.

Theo bác sỹ, điểm then chốt của sàng lọc phôi nằm ở việc “lọc” nguy cơ ngay từ đầu. Những phôi có cấu trúc di truyền không ổn định, nguy cơ cao dẫn đến sảy thai hoặc thai lưu sẽ được loại trừ, trong khi các phôi có khả năng phát triển thành thai khỏe mạnh được ưu tiên chuyển.

Tháng 6/2023, chị Thùy được chuyển một phôi và đậu thai ngay lần đầu. Em bé gái chào đời năm 2024 khỏe mạnh, phát triển bình thường.

Khi con cứng cáp, chị quyết định chuyển phôi để sinh thêm bé thứ hai do tuổi đã lớn. Sau những lần chưa thành công, đến lần chuyển phôi thứ ba vào năm 2025, thai làm tổ và phát triển ổn định từ những tuần đầu. Bé trai chào đời cuối tháng Chạp, nặng 3,8kg.

Đáng lưu ý, trong cả hai thai kỳ, chị Thùy đều mắc đái tháo đường thai kỳ và phải điều trị bằng insulin. Theo TS.Nguyễn Thị Yến Thu, chuyên gia sản khoa, nếu không kiểm soát tốt, tình trạng này có thể làm tăng nguy cơ tiền sản giật, sinh non, thai to hoặc rối loạn đường huyết ở trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, nhờ theo dõi sát của êkíp sản khoa và nội tiết, sức khỏe mẹ và thai nhi được kiểm soát ổn định đến khi sinh.

Bất thường di truyền không đồng nghĩa với việc không thể sinh con khỏe mạnh. Điều quan trọng nằm ở chẩn đoán đúng nguyên nhân và ứng dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phù hợp. Đây cũng là lý do sàng lọc phôi ngày càng được chỉ định rộng rãi, đặc biệt với các cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp, thất bại IVF nhiều lần hoặc mang bệnh lý di truyền.

Tin liên quan
Tin khác