Nhồi máu cơ tim không loại trừ người trẻ, bác sỹ cảnh báo yếu tố nguy cơ hàng đầu
Cơn đau ngực âm ỉ kéo dài suốt ba ngày nhưng không được chú ý. Chỉ đến khi xuất hiện cơn đau thắt ngực dữ dội, khó thở và vã mồ hôi, nam thanh niên 25 tuổi mới được người nhà đưa đến bệnh viện cấp cứu. Các bác sỹ xác định người bệnh bị nhồi máu cơ tim cấp do tắc hoàn toàn động mạch vành, một tổn thương hiếm gặp ở độ tuổi rất trẻ.
Theo BSCKII Nguyễn Thế Huy, Phó trưởng Khoa Nội Tim mạch người lớn, Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện E, người bệnh có tiền sử hút thuốc lá từ năm 15 tuổi.
| Bệnh nhân đang điều trị tại Bệnh viện E. |
Khoảng ba ngày trước khi nhập viện, bệnh nhân xuất hiện cảm giác nặng ngực nhưng nghĩ chỉ là triệu chứng thông thường nên không đi khám. Đến trước thời điểm nhập viện khoảng ba giờ, cơn đau ngực tăng dữ dội, kèm khó thở và vã mồ hôi nhiều nên được đưa đến bệnh viện địa phương. Sau khi được chẩn đoán nghi ngờ nhồi máu cơ tim cấp, người bệnh nhanh chóng được chuyển tới Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện E.
"Tại thời điểm tiếp nhận, người bệnh vẫn còn đau ngực. Kết quả điện tim và siêu âm tim cho thấy nhiều dấu hiệu thiếu máu cơ tim cấp nên chúng tôi lập tức chỉ định chụp động mạch vành cấp cứu", BSCKII Nguyễn Thế Huy cho biết.
Kết quả chụp mạch cho thấy bệnh nhân bị tắc hoàn toàn cấp tính động mạch liên thất trước ngay đoạn gần xuất phát, đồng thời có tổn thương tắc mạn tính động mạch vành phải. Theo các bác sỹ, đây là mức độ tổn thương rất nặng và hiếm gặp ở người mới 25 tuổi.
Ê-kíp can thiệp tim mạch đã khẩn trương tái thông động mạch vành, khôi phục dòng máu nuôi tim. Sau can thiệp, tình trạng đau ngực giảm rõ rệt, huyết động ổn định và người bệnh được xuất viện sau hai ngày điều trị.
Theo BSCKII Nguyễn Thế Huy, nhồi máu cơ tim vốn thường gặp ở người trung niên và cao tuổi do quá trình xơ vữa động mạch diễn ra trong nhiều năm. Tuy nhiên, thời gian gần đây, các cơ sở điều trị tim mạch ghi nhận ngày càng nhiều trường hợp mắc bệnh ở người trẻ, trong đó không ít bệnh nhân dưới 40 tuổi.
Điều đáng lo ngại ở trường hợp này không chỉ là tuổi đời rất trẻ mà còn là mức độ tổn thương động mạch vành đặc biệt nghiêm trọng. Nếu không được phát hiện và can thiệp kịp thời, người bệnh có nguy cơ tử vong hoặc để lại nhiều di chứng nặng nề như suy tim, rối loạn nhịp tim, giảm chức năng tim kéo dài.
Các bác sỹ cho biết, nhồi máu cơ tim xảy ra khi động mạch vành bị tắc nghẽn đột ngột, khiến cơ tim không được cung cấp đủ oxy. Trong cấp cứu tim mạch, "thời gian chính là cơ tim". Mỗi phút chậm trễ đều đồng nghĩa với việc thêm nhiều tế bào cơ tim bị hoại tử, làm gia tăng nguy cơ sốc tim, đột quỵ, suy tim hoặc tử vong.
Đáng tiếc, ở người trẻ, tâm lý chủ quan khiến nhiều người bỏ qua các dấu hiệu cảnh báo ban đầu như đau tức ngực, khó thở, hồi hộp kéo dài hoặc giảm khả năng gắng sức, dẫn đến nhập viện muộn và bỏ lỡ "thời gian vàng" điều trị.
Qua đánh giá, các bác sỹ nhận định yếu tố nguy cơ nổi bật nhất ở bệnh nhân là hút thuốc lá kéo dài. Việc hút thuốc liên tục suốt 10 năm, bắt đầu từ tuổi 15, đã gây tổn thương lớp nội mạc mạch máu, thúc đẩy quá trình xơ vữa động mạch và hình thành huyết khối, làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim ngay từ khi còn rất trẻ.
Ngoài thuốc lá, nhiều yếu tố khác cũng góp phần làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở người trẻ như thừa cân, béo phì, ít vận động, chế độ ăn nhiều chất béo bão hòa, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, đái tháo đường chưa được phát hiện, căng thẳng kéo dài, thức khuya và lạm dụng đồ uống có chất kích thích.
Các chuyên gia cũng lưu ý, thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng không phải là lựa chọn an toàn đối với sức khỏe tim mạch như nhiều người vẫn lầm tưởng.
Sau điều trị, người bệnh được tư vấn cai thuốc lá hoàn toàn, duy trì sử dụng thuốc theo chỉ định, tái khám định kỳ và thay đổi lối sống để giảm nguy cơ tái phát.
Từ trường hợp này, các bác sỹ khuyến cáo người dân, đặc biệt là người trẻ, không nên chủ quan với các triệu chứng đau ngực, khó thở hoặc giảm khả năng gắng sức. Việc từ bỏ thuốc lá, duy trì chế độ dinh dưỡng hợp lý, tập luyện thường xuyên, kiểm soát cân nặng và khám sức khỏe định kỳ là những giải pháp quan trọng giúp phòng ngừa bệnh tim mạch từ sớm.
"Tuổi trẻ không phải là tấm khiên bảo vệ trước bệnh tim mạch. Những thói quen tưởng chừng vô hại hôm nay có thể trở thành nguyên nhân dẫn đến cơn nhồi máu cơ tim trong tương lai", BSCKII Nguyễn Thế Huy nhấn mạnh.
Dụi mắt tưởng vô hại, cô gái 22 tuổi suýt mất thị lực vì giác mạc biến dạng
Ngứa mắt kéo dài khiến cô gái 22 tuổi hình thành thói quen dụi mắt nhiều năm. Chỉ đến khi thay kính liên tục nhưng thị lực vẫn giảm, cô mới phát hiện mắc giác mạc chóp, bệnh lý có thể dẫn đến ghép giác mạc nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.
Tưởng chỉ là tăng độ cận thông thường, Phương Nhi (22 tuổi) liên tục thay kính 5-6 lần trong vòng hai tháng vì mắt nhìn ngày càng mờ. Thế nhưng, thị lực không những không cải thiện mà còn giảm nhanh. Kết quả thăm khám tại viện cho thấy nguyên nhân không phải do cận thị tiến triển, mà là giác mạc đã bị biến dạng bởi bệnh giác mạc chóp, một bệnh lý nguy hiểm thường diễn tiến âm thầm ở người trẻ.
Theo khai thác bệnh sử, Nhi có cơ địa dị ứng, thường xuyên bị đỏ mắt, ngứa mắt và viêm kết mạc tái đi tái lại. Cảm giác ngứa dữ dội, đặc biệt vào buổi tối, khiến cô hình thành thói quen day dụi mắt mạnh để giảm khó chịu mà không biết chính hành động này đang từng ngày làm tổn thương giác mạc.
Tại thời điểm khám, thị lực hai mắt chênh lệch rõ rệt. Mắt phải cận hai độ, trong khi mắt trái cận bốn độ kèm loạn thị năm độ. Thị lực mắt trái chỉ đạt 20/630 khi không đeo kính và chỉ cải thiện lên mức 5/10 dù đã chỉnh kính tối ưu.
PGS-TS.Nguyễn Thị Thu Hiền nghi ngờ người bệnh mắc giác mạc chóp, bệnh lý đặc trưng bởi tình trạng giác mạc mỏng dần, lồi ra phía trước như hình chóp, làm xuất hiện loạn thị không đều và suy giảm thị lực tiến triển.
Kết quả chụp bản đồ giác mạc bằng hệ thống Pentacam xác nhận giác mạc mắt trái đã mỏng vùng trung tâm, bề mặt giác mạc nhô cao điển hình của giác mạc chóp độ 2, trong khi mắt phải đã xuất hiện dấu hiệu tiền giác mạc chóp.
Để ngăn bệnh tiến triển, các bác sỹ chỉ định thực hiện kỹ thuật Crosslinking. Phương pháp này sử dụng vitamin B2 kết hợp tia cực tím nhằm tăng cường các liên kết collagen, giúp gia cố độ bền của giác mạc và hạn chế tình trạng biến dạng tiếp tục diễn ra. Sau điều trị, người bệnh được chỉ định sử dụng kính áp tròng cứng để cải thiện thị lực.
Theo PGS-TS.Nguyễn Thị Thu Hiền, giác mạc chóp có liên quan đến nhiều yếu tố như di truyền, các bệnh lý mô liên kết toàn thân và đặc biệt là những tác động cơ học kéo dài lên bề mặt giác mạc, trong đó dụi mắt là yếu tố nguy cơ phổ biến.
Dụi mắt là phản xạ rất thường gặp ở những người bị dị ứng, viêm kết mạc hoặc khô mắt. Tuy nhiên, bàn tay chứa nhiều vi khuẩn có thể khiến tình trạng viêm kéo dài, làm mắt càng ngứa và người bệnh càng dụi nhiều hơn, tạo thành một vòng xoắn bệnh lý.
Quan trọng hơn, lực tác động lặp đi lặp lại trong quá trình dụi mắt có thể làm tổn thương các sợi collagen, thành phần quyết định độ bền của giác mạc. Đồng thời, động tác này còn kích thích giải phóng các enzyme phân hủy mô, khiến cấu trúc giác mạc suy yếu và làm tăng áp lực trong nhãn cầu, khiến vùng giác mạc yếu dần phồng ra phía trước.
Theo các chuyên gia, đây là cơ chế quan trọng dẫn đến sự hình thành và tiến triển của bệnh giác mạc chóp. Một khó khăn trong điều trị giác mạc chóp là bệnh thường diễn tiến âm thầm trong nhiều năm.
Các chuyên gia khuyến cáo, người dân không nên chủ quan nếu xuất hiện các dấu hiệu như ngứa mắt kéo dài, nhìn mờ, loạn thị tăng nhanh hoặc thay kính nhiều lần nhưng thị lực vẫn không cải thiện. Đây có thể là những biểu hiện sớm của giác mạc chóp.
Việc khám chuyên khoa và chụp bản đồ giác mạc giúp phát hiện bệnh ngay từ giai đoạn đầu, tạo cơ hội điều trị bằng các phương pháp bảo tồn như Crosslinking, hạn chế nguy cơ tiến triển nặng và tránh phải ghép giác mạc để bảo tồn thị lực.
AI hỗ trợ bác sỹ mổ u não, cứu người phụ nữ thoát nguy cơ mù vĩnh viễn
Tưởng chỉ bị giảm thị lực thông thường, người phụ nữ 48 tuổi được phát hiện khối u màng não nằm sát dây thần kinh thị giác và các mạch máu lớn của não. Nhờ ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lập kế hoạch và dẫn đường phẫu thuật, các bác sỹ đã lấy trọn khối u, giúp người bệnh phục hồi hoàn toàn thị lực.
Một buổi sáng, bà Hoa (48 tuổi) bất ngờ nhận thấy mắt phải nhìn mờ. Nghĩ chỉ là bệnh lý về mắt, bà đến khám chuyên khoa mắt. Tuy nhiên, điều khiến các bác sỹ lo ngại không nằm ở võng mạc hay giác mạc mà ở một nguyên nhân hoàn toàn khác: não bộ.
Theo bác sỹ Lê Thị Thanh Hải, chuyên khoa mắt, người điều trị cho bệnh nhân thì thời điểm đầu thăm khám, thị lực mắt phải của người bệnh chỉ còn 3/10, đồng thời kết quả đo thị trường ghi nhận mất một phần vùng nhìn. Khám đáy mắt không phát hiện bất thường ở võng mạc hay gai thị nên bác sỹ nghi ngờ tổn thương nằm trên đường dẫn truyền thị giác và chỉ định chụp cộng hưởng từ (MRI).
Do tâm lý sợ không gian kín, người bệnh từ chối thực hiện chụp MRI. Chỉ một tháng sau, thị lực tiếp tục giảm nhanh xuống còn 1/10, nguy cơ mất thị lực vĩnh viễn buộc bà phải đồng ý kiểm tra.
Kết quả chụp MRI 3 Tesla phát hiện khối u màng não cánh bé xương bướm phải có kích thước khoảng 4 cm nằm ở nền sọ trước, sát dây thần kinh thị giác và giao thoa thị giác.
Theo bác sỹ Chu Tấn Sỹ, chuyên khoa ngoại thần kinh - cột sống, đây là một trong những vị trí khó nhất trong phẫu thuật thần kinh. Khối u không chỉ chèn ép dây thần kinh thị giác mà còn đẩy lệch nhu mô não, lan vào đỉnh hốc mắt, đồng thời bao quanh hơn một nửa chu vi động mạch cảnh trong phải và nằm sát nhiều cấu trúc thần kinh quan trọng.
"Nếu không được điều trị kịp thời, người bệnh không chỉ có nguy cơ mất thị lực cả hai mắt mà còn có thể bị đột quỵ, yếu liệt hoặc rối loạn ngôn ngữ do khối u tiếp tục phát triển và chèn ép các mạch máu nuôi não", bác sỹ Chu Tấn Sỹ cho biết.
Điều khiến ca bệnh trở nên đặc biệt khó khăn là chỉ cần sai lệch vài milimet trong quá trình phẫu thuật cũng có thể làm tổn thương dây thần kinh thị giác hoặc các mạch máu quan trọng.
Để tăng độ an toàn, ê-kíp quyết định ứng dụng đồng thời kính vi phẫu K.Zeiss Kinevo 900 tích hợp trí tuệ nhân tạo cùng hệ thống định vị thần kinh Navigation có hỗ trợ AI.
Trước phẫu thuật, toàn bộ dữ liệu MRI, CT và DTI được đưa vào hệ thống để tái tạo mô hình ba chiều của khối u cùng toàn bộ hệ thống dây thần kinh và mạch máu xung quanh.
Nhờ đó, các bác sỹ có thể mô phỏng ca mổ ngay từ trước khi phẫu thuật, lựa chọn đường tiếp cận ngắn nhất, an toàn nhất và hạn chế tối đa tác động lên mô não lành.
Theo bác sỹ Chu Tấn Sỹ, u màng não thường phát triển âm thầm trong nhiều năm. Những khối u xuất hiện ở nền sọ đặc biệt nguy hiểm vì có thể chèn ép dây thần kinh thị giác, dây thần kinh vận động và các mạch máu lớn của não.
Ở giai đoạn đầu, người bệnh thường chỉ xuất hiện những biểu hiện không đặc hiệu như nhìn mờ một mắt, giảm thị lực, đau đầu kéo dài hoặc suy giảm trí nhớ nên rất dễ bỏ qua.
Các chuyên gia khuyến cáo, người dân không nên chủ quan nếu xuất hiện tình trạng giảm thị lực không rõ nguyên nhân, mất thị trường, đau đầu kéo dài hoặc các triệu chứng thần kinh bất thường. Việc thăm khám chuyên khoa và chụp cộng hưởng từ theo chỉ định giúp phát hiện sớm khối u, tạo cơ hội điều trị hiệu quả và bảo tồn tối đa chức năng thần kinh.
Sự kết hợp giữa kinh nghiệm của phẫu thuật viên và các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, hệ thống định vị thần kinh và kính vi phẫu thế hệ mới đang góp phần nâng cao độ chính xác trong phẫu thuật thần kinh. AI không thay thế bác sỹ, nhưng trở thành công cụ hỗ trợ quan trọng, giúp giảm nguy cơ tổn thương các cấu trúc quan trọng, mở thêm cơ hội bảo tồn thị lực và chất lượng sống cho người bệnh.