Y tế - Sức khỏe
Người phụ nữ liên tiếp mắc hai bệnh ung thư trong 4 năm
D.Ngân - 29/06/2026 10:55
Sau khi điều trị ổn định ung thư cổ tử cung giai đoạn III, người phụ nữ 68 tuổi tưởng như đã vượt qua căn bệnh hiểm nghèo. Tuy nhiên, bốn năm sau, bà tiếp tục phát hiện một khối u ở vú phải và được chẩn đoán mắc ung thư vú nguyên phát.

Sau khi điều trị ổn định ung thư cổ tử cung giai đoạn III, người phụ nữ 68 tuổi tưởng như đã vượt qua căn bệnh hiểm nghèo. Tuy nhiên, bốn năm sau, bà tiếp tục phát hiện một khối u ở vú phải và được chẩn đoán mắc ung thư vú nguyên phát. Các bác sỹ cho biết đây là thể ung thư biểu mô nhầy tuyến vú hiếm gặp, có tiên lượng khả quan nếu được phát hiện và điều trị kịp thời.

Khoảng ba tháng trước khi nhập viện, bà Đ.T.M.C. (68 tuổi, Hà Nội) tình cờ phát hiện một khối u ở vùng vú phải. Ban đầu, khối u nhỏ, chắc, không gây đau nên bà chưa quá lo lắng. Tuy nhiên, theo thời gian, khối u tăng kích thước khiến bà quyết định đến Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC thăm khám.

Khai thác tiền sử bệnh cho thấy, cách đây bốn năm, bà từng được chẩn đoán mắc ung thư cổ tử cung giai đoạn III và đã điều trị bằng xạ trị áp sát. Các đợt tái khám sau đó đều ghi nhận bệnh ổn định, không có dấu hiệu tái phát.

Giải phẫu bệnh cho kết quả là ung thư biểu mô nhầy tuyến vú.

Tại thời điểm thăm khám, các bác sỹ ghi nhận ở vị trí 13 giờ của vú phải, gần núm vú, có khối u kích thước khoảng 3 x 2 cm, mật độ chắc. Núm vú không tụt, không tiết dịch và chưa ghi nhận các dấu hiệu bất thường khác trên lâm sàng.

Để xác định bản chất tổn thương, bệnh nhân được chỉ định thực hiện nhiều kỹ thuật chẩn đoán chuyên sâu. Kết quả chụp X-quang tuyến vú phát hiện khối tăng đậm độ kích thước 31 x 22,5 mm tại 1/4 trong dưới vú phải, bờ không đều, thùy múi, được phân loại BIRADS 4A, nhóm tổn thương nghi ngờ ác tính cần sinh thiết. Ở vú trái chỉ ghi nhận một nốt vôi hóa nhỏ mang tính chất lành tính.

Siêu âm tiếp tục cho thấy khối giảm âm không đều, bên trong có vùng dịch hóa, kích thước khoảng 26 x 17 mm, bờ thùy múi không đều, xung quanh có thâm nhiễm mỡ, được xếp BIRADS 4.

Bệnh nhân được sinh thiết dưới hướng dẫn siêu âm. Kết quả giải phẫu bệnh tại Trung tâm Giải phẫu bệnh MEDLATEC xác định đây là carcinoma nhầy xâm nhập, thuộc phân típ phân tử Luminal A.

Từ các kết quả lâm sàng, cận lâm sàng và mô bệnh học, các bác sỹ chẩn đoán bệnh nhân mắc ung thư vú nguyên phát trên nền ung thư cổ tử cung đã được điều trị ổn định. Người bệnh được tư vấn điều trị theo phác đồ chuyên khoa nhằm đạt hiệu quả tối ưu.

Theo Ths.Nguyễn Văn Tuấn, Trung tâm Giải phẫu bệnh MEDLATEC, ung thư biểu mô nhầy tuyến vú là một thể ung thư vú xâm nhập hiếm gặp, chỉ chiếm khoảng 1 - 4% tổng số các trường hợp ung thư vú xâm nhập. Bệnh chủ yếu gặp ở phụ nữ sau mãn kinh, với độ tuổi mắc bệnh trung bình từ 60 đến 70 tuổi.

Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ung thư biểu mô nhầy tuyến vú được chia thành hai thể. Thể thứ nhất là ung thư biểu mô nhầy đơn thuần (Pure Mucinous Carcinoma - PMC), trong đó thành phần chất nhầy chiếm trên 90% khối u.

Thể còn lại là ung thư biểu mô nhầy hỗn hợp (Mixed Mucinous Carcinoma - MMC), có tỷ lệ chất nhầy dưới 90% và xen lẫn các thành phần ung thư biểu mô xâm nhập khác.

Sự phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong tiên lượng bệnh. Theo Th.Nguyễn Văn Tuấn, thể ung thư biểu mô nhầy đơn thuần thường có tiên lượng tốt hơn rõ rệt, trong khi thể hỗn hợp có nguy cơ di căn hạch nách và tái phát cao hơn, đòi hỏi chiến lược điều trị và theo dõi chặt chẽ.

Nhờ những đặc điểm sinh học thuận lợi, ung thư biểu mô nhầy tuyến vú được đánh giá có tiên lượng tốt hơn nhiều thể ung thư vú xâm nhập khác. Tỷ lệ di căn hạch nách chỉ khoảng 12-14%; tỷ lệ sống không bệnh sau 5 năm đạt 85-95%, trong khi tỷ lệ sống không bệnh sau 10 năm lên tới hơn 90%.

Các bác sỹ khuyến cáo, ung thư vú ở giai đoạn đầu thường diễn biến âm thầm, nhiều trường hợp không gây đau hoặc chỉ biểu hiện bằng một khối u nhỏ nên người bệnh dễ chủ quan.

Phụ nữ, đặc biệt là người trên 40 tuổi hoặc có tiền sử mắc ung thư, cần duy trì khám sức khỏe định kỳ, tự khám vú hằng tháng và đến cơ sở y tế ngay khi phát hiện khối u, thay đổi hình dạng tuyến vú, tiết dịch núm vú hoặc các dấu hiệu bất thường khác.

Việc phát hiện sớm không chỉ giúp tăng hiệu quả điều trị mà còn mở rộng cơ hội bảo tồn tuyến vú và cải thiện đáng kể tiên lượng sống cho người bệnh.

Tin liên quan
Tin khác