| Khu công nghiệp Hiệp Phước tại TP.HCM nằm trong định hướng chuyển đổi theo mô hình khu công nghiệp sinh thái (Ảnh: Lê Toàn) |
Từ ba cực công nghiệp đến một chuỗi giá trị
Sau hơn một năm mở rộng địa giới hành chính, TP.HCM đang định hình lại không gian công nghiệp trên quy mô lớn hơn, khi lợi thế của từng khu vực được đặt trong cùng một không gian phát triển. Theo các quy hoạch được phê duyệt, sau sáp nhập, TP.HCM có 105 khu chế xuất (KCX), khu công nghiệp (KCN) với tổng diện tích hơn 50.288 ha. Trong đó, 3 KCX và 55 KCN đã đi vào hoạt động, với tổng diện tích 22.410 ha, tỷ lệ lấp đầy khoảng 80%. Phần quỹ đất theo quy hoạch chưa đưa vào hoạt động tạo dư địa phát triển cho Thành phố trong những năm tới.
Quy mô quỹ đất lớn tạo điều kiện để Thành phố tổ chức lại không gian công nghiệp dựa trên thế mạnh của từng khu vực. Khu vực TP.HCM trước đây tập trung vào nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), tài chính và dịch vụ. Khu vực Bình Dương phát huy thế mạnh sản xuất công nghiệp, công nghiệp hỗ trợ và các ngành công nghệ cao. Khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu là không gian của kinh tế biển, cảng nước sâu, logistics, dầu khí và khu thương mại tự do.
Từ sự phân vai này, một chuỗi giá trị có thể hình thành: công nghệ và thiết kế tập trung ở khu vực trung tâm; sản xuất và công nghiệp hỗ trợ phát triển tại những nơi có quỹ đất lớn; hàng hóa sau đó kết nối với các trung tâm logistics và cảng nước sâu để ra thị trường quốc tế.
Ông Bùi Minh Trí, Trưởng ban Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp TP.HCM (Hepza), chia sẻ rằng định hướng thu hút đầu tư vào các KCN của Thành phố thời gian tới là ưu tiên những ngành có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao như điện tử, bán dẫn, AI, dữ liệu lớn, chuỗi khối, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng tái tạo và công nghiệp hỗ trợ.
Định hướng này cho thấy hoạt động thu hút đầu tư vào KCN TP.HCM đang chuyển dần từ mô hình dựa nhiều vào lao động và tài nguyên sang mô hình dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Quy mô dòng vốn hiện hữu cũng cho thấy nền tảng công nghiệp của Thành phố đã khá lớn. Theo số liệu cập nhật đến tháng 8/2026 của Hepza, các KCX, KCN tại TP.HCM có 5.411 dự án đầu tư còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký 81,77 tỷ USD. Trong đó, 3.224 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, với tổng vốn đăng ký 60,07 tỷ USD. Trong 8 tháng năm 2026, các KCX, KCN thu hút 5,43 tỷ USD vốn đầu tư đăng ký; riêng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 4,14 tỷ USD. Với nền tảng này, bài toán của TP.HCM trong giai đoạn mới không chỉ là thu hút dự án để lấp đầy KCN, mà còn là kết nối các dự án sâu hơn để tạo giá trị lớn hơn trong cùng một không gian phát triển.
Hạ tầng, thủ tục tạo lực hút mới
Sức hút của các KCN TP.HCM được tạo nên từ sự cộng hưởng giữa hạ tầng, thủ tục và khả năng kết nối trong một không gian phát triển rộng hơn. Khi những yếu tố này được cải thiện, lợi thế của KCN không còn chỉ nằm ở giá đất hay chi phí lao động, mà còn ở khả năng tham gia chuỗi cung ứng.
Các dự án hạ tầng chiến lược như sân bay quốc tế Long Thành, đường Vành đai 3 TP.HCM, cao tốc Bến Lức - Long Thành, cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu đang được triển khai hoặc từng bước đưa vào khai thác. Khi hoàn thiện đồng bộ, mạng lưới này sẽ rút ngắn khoảng cách từ các KCN đến sân bay, cảng biển và trung tâm logistics. TP.HCM cũng đang thúc đẩy kết nối trên hành lang công nghiệp Bình Dương - TP.HCM - Bà Rịa - Vũng Tàu. Các dự án như tuyến kết nối Cần Giờ - Vũng Tàu, cao tốc Hồ Tràm - sân bay Long Thành, cầu Phú Mỹ 2, cầu Cát Lái, hiện đang triển khai, khi hoàn thành sẽ tăng khả năng kết nối giữa các vùng sản xuất với hệ thống logistics và cảng biển. Việc rút ngắn thời gian vận chuyển, giảm chi phí logistics sẽ góp phần nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, nhất là trong các ngành chế biến, chế tạo, điện tử, công nghiệp hỗ trợ và công nghệ cao.
Cùng với hạ tầng, tốc độ xử lý thủ tục đang trở thành một lợi thế cạnh tranh. Hiện các thủ tục đầu tư tại TP.HCM được tiếp nhận tại Trung tâm Phục vụ hành chính công của Thành phố; doanh nghiệp cũng có thể thực hiện trực tuyến. Với các dự án công nghệ cao như trung tâm dữ liệu, Thành phố định hướng cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trong 15 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Nhiều thủ tục về môi trường, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, điều chỉnh quy hoạch... cũng được Chủ tịch UBND TP.HCM ủy quyền cho Trưởng ban Hepza thực hiện, qua đó rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ.
Ông Oliver Jones, đồng sáng lập Tập đoàn AIC cho biết, ông ấn tượng với tốc độ xử lý thủ tục trong quá trình xúc tiến dự án trung tâm dữ liệu của AIC tại TP.HCM. Theo ông, thủ tục được giải quyết nhanh giúp doanh nghiệp không bỏ lỡ cơ hội và sớm đưa dự án vào hoạt động.
Với các tập đoàn đa quốc gia, khoảng cách đến cảng hay sân bay chỉ là một phần của bài toán. Khả năng tiếp cận nhà cung ứng, nhân lực và dịch vụ hỗ trợ trong cùng một hệ sinh thái ngày càng quan trọng, nhất là khi các tập đoàn tái cấu trúc chuỗi cung ứng và đặt yêu cầu cao hơn về thời gian giao hàng, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường và năng lực cung ứng tại chỗ.
Nhờ những lợi thế về hạ tầng và môi trường đầu tư, các KCX, KCN trên địa bàn đã thu hút một số doanh nghiệp sản xuất thiết bị, linh kiện phục vụ ngành bán dẫn như Renesas Việt Nam, Ampere Computing Vietnam, Mtex Việt Nam và Kamet Việt Nam. Đây là nền tảng để Thành phố tiếp tục thu hút các dự án có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao.
Nâng chất dòng vốn, nâng giá trị khu công nghiệp
Cùng với việc mở rộng không gian, TP.HCM đang chuyển trọng tâm từ lấp đầy KCN sang nâng giá trị trên mỗi ha đất, tăng hàm lượng công nghệ và sức lan tỏa của dòng vốn FDI.
Số liệu thống kê từ Hepza cho thấy suất đầu tư bình quân tại các KCX, KCN đạt khoảng 7,62 triệu USD/ha. Về cơ cấu ngành nghề, đầu tư vào các KCX, KCN khá đa dạng: cơ khí chiếm 6,32%; dệt may - da giày 10,72%; điện tử 4,88%; nhựa - cao su 11,01%; chế biến gỗ - nội thất 2,01%; bao bì - in ấn giấy 6,02%; dịch vụ và dịch vụ công nghiệp 2,42%; chế biến thực phẩm 5,51%; các ngành nghề khác chiếm 51,11%.
Những con số này cho thấy, dư địa nâng chất dòng vốn vẫn còn lớn. Ông Bùi Minh Trí cho biết, để nâng chất dòng vốn vào các KCN, TP.HCM sẽ chuyển đổi các KCN thế hệ cũ phù hợp với quy hoạch; nghiên cứu thu hồi một số KCN nhỏ trong nội thành để phát triển công trình công cộng; đồng thời nâng cấp các KCN lớn theo hướng công nghệ cao, sinh thái, logistics hoặc phát triển theo mô hình đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD).
Cùng với tái cấu trúc không gian, Thành phố tiếp tục hoàn thiện mô hình “một cửa tại chỗ”, tích hợp và rút gọn thủ tục về đầu tư, xây dựng, môi trường, phòng cháy, chữa cháy. Thành phố cũng tập trung hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, logistics và kết nối liên vùng, nhất là hành lang công nghiệp Bình Dương - TP.HCM - Bà Rịa - Vũng Tàu, nhằm giảm chi phí logistics và nâng sức cạnh tranh.
TP.HCM sẽ nghiên cứu các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực, di dời và rà soát cơ chế giá thuê đất theo hướng phù hợp, linh hoạt. Cùng với hạ tầng sản xuất, Thành phố chú trọng phát triển nhà lưu trú công nhân và các thiết chế phục vụ người lao động, qua đó ổn định, giữ chân nguồn nhân lực.
Khi các điểm nghẽn về quỹ đất, hạ tầng, thủ tục và liên kết doanh nghiệp từng bước được tháo gỡ, lợi thế của TP.HCM sẽ không chỉ nằm ở số lượng KCN, mà còn ở khả năng hình thành một hệ sinh thái công nghiệp đủ rộng, đủ sâu và có tính liên kết cao. Đây cũng là nền tảng để Thành phố thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới và nâng giá trị các KCN.