Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng, chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng, trợ giúp khẩn cấp và chăm sóc tại cơ sở trợ giúp xã hội sẽ có hiệu lực từ ngày 5/10.
Theo quy định mới, mức chuẩn trợ giúp xã hội áp dụng từ ngày 1/7 là 540.000 đồng/tháng, tăng so với mức 500.000 đồng/tháng trước đây.
Mức chuẩn này là căn cứ để xác định mức trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; mức chăm sóc tại các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em và các khoản trợ giúp xã hội khác.
Tùy điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng cân đối ngân sách, địa phương có thể áp dụng mức hỗ trợ cao hơn. Cụ thể, UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp xem xét, quyết định mức chuẩn trợ giúp xã hội và mức trợ giúp áp dụng trên địa bàn cao hơn mức quy định tại Nghị định 335/2026/NĐ-CP.
| Mức chuẩn trợ giúp xã hội áp dụng từ ngày 1/7 là 540.000 đồng/tháng, tăng so với mức 500.000 đồng/tháng trước đây. |
Theo Điểm a, Khoản 5, Điều 5 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, một số nhóm người cao tuổi thuộc diện được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng.
Trong đó có người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng; hoặc có người có nghĩa vụ, quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.
Nhóm người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống tại cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng cũng thuộc diện được hỗ trợ.
Với người từ đủ 60 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc người có nghĩa vụ phụng dưỡng đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, hệ số trợ cấp được xác định là 1,5.
Căn cứ mức chuẩn trợ giúp xã hội 540.000 đồng/tháng, mức hưởng của nhóm này là: 540.000 đồng x 1,5 = 810.000 đồng/tháng.
Như vậy, không phải mọi người từ đủ 60 đến dưới 75 tuổi đều được hưởng 810.000 đồng/tháng. Người hưởng phải đáp ứng đồng thời các điều kiện về độ tuổi, hoàn cảnh hộ nghèo và điều kiện liên quan đến người có nghĩa vụ, quyền phụng dưỡng theo quy định.
Đối với người từ đủ 75 tuổi trở lên thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc người phụng dưỡng đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, hệ số hưởng là 2,0. Với mức chuẩn 540.000 đồng, số tiền trợ cấp hằng tháng của nhóm này là 1,08 triệu đồng.
Mức hỗ trợ cao hơn áp dụng đối với người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống tại cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng. Nhóm này được hưởng hệ số 3,0, tương ứng 1,62 triệu đồng/tháng.
Nghị định 335/2026/NĐ-CP cũng quy định cụ thể hồ sơ, phương thức nộp và thời hạn giải quyết thủ tục hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng. Hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp gồm tờ khai đề nghị trợ cấp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo quy định.
Đối tượng hoặc người giám hộ có thể nộp hồ sơ theo một trong ba phương thức: trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tiếp tại bất kỳ Bộ phận Một cửa.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, chủ tịch UBND xã, phường, đặc khu nơi người đề nghị cư trú có trách nhiệm tổ chức xác thực thông tin liên quan. Thông tin được đối chiếu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành dùng chung.
Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải hoàn tất thẩm định và quyết định trợ cấp xã hội, nhận chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng hằng tháng nếu người đề nghị đáp ứng đủ điều kiện.
Thời điểm hưởng trợ cấp xã hội và hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng hằng tháng được tính từ tháng chủ tịch UBND cấp xã ký quyết định. Sau khi có quyết định, cơ quan chức năng tổ chức chi trả chế độ cho người hưởng theo quy định của pháp luật. Nếu người đề nghị không đủ điều kiện hưởng chính sách, chủ tịch UBND cấp xã phải trả lời bằng văn bản, trong đó nêu rõ lý do không giải quyết.