Nếu tinh thần ấy đã được Hồ Chí Minh nâng lên một tầm cao mới, thì thực tiễn đất nước hôm nay đang đòi hỏi phải hiện thực hóa tinh thần ấy bằng những hành động cụ thể để đạt bằng được các mục tiêu phát triển mà toàn Đảng, toàn dân đang đồng lòng hướng tới.
| Tại Đại hội lần thứ XIV, Đảng đã phát đi thông điệp về “tự chủ chiến lược” và sự cần thiết phải khơi dậy “ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc” để đạt được các mục tiêu đặt ra |
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự lực, tự cường
Nếu “tự lực” có nghĩa là dựa vào sức mình để sống và làm việc, tuyệt đối không trông chờ, ỷ lại vào người khác, thì “tự cường” có nghĩa là tự làm cho mình mạnh lên, không chịu thua kém người khác, dân tộc khác. Tự lực, tự cường, tự chủ là những phẩm chất tốt đẹp của mỗi con người, mỗi dân tộc vì chứa đựng trong đó lòng tự trọng, ý chí vươn lên và khát vọng khẳng định bản thân. Là nhà tư tưởng lớn của dân tộc và thời đại, Hồ Chí Minh đã đề ra hệ thống quan điểm sâu sắc về tinh thần tự lực, tự cường dân tộc.
Trước hết, Hồ Chí Minh khẳng định: Tự lực, tự cường là tiền đề của độc lập tự do. Thực tiễn đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa đã giúp Hồ Chí Minh hiểu rằng: Công cuộc giải phóng phải là công cuộc “tự giải phóng”; tuyệt đối không thể trông chờ vào thiện chí hay sự bố thí, rộng lượng của những kẻ cướp nước. Ngược lại, “một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”.
Tháng 8/1945, trong điều kiện quốc tế thuận lợi, Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào “đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Sau khi đã giành được chính quyền, Hồ Chí Minh tìm mọi cách để duy trì sự độc lập, tự chủ của Nhà nước cách mạng, không để các thế lực bên ngoài can thiệp vào vấn đề nội trị của đất nước. Sức mạnh của dân tộc là sức mạnh của toàn dân, ý chí tự lực, tự cường dân tộc khởi nguồn từ tinh thần làm chủ, tự lực cánh sinh của mỗi người dân, nên Hồ Chí Minh đã nói: “Mỗi một người dân phải hiểu: có tự lập mới độc lập, có tự cường mới tự do”.
Trở thành nguyên thủ của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh quyết tâm tẩy bỏ tâm lý nô lệ để xây dựng một tinh thần mới - “tinh thần độc lập tự cường” và coi đó là điều kiện quan trọng để “kháng chiến tất thắng, kiến quốc tất thành”. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp chính là thắng lợi của tinh thần “tự lực cánh sinh”, khi suốt 5 năm (1945-1950), nhân dân ta đủ sức tiến hành “cuộc chiến đấu trong vòng vây”, cho dù không được một quốc gia nào đặt quan hệ ngoại giao và giúp đỡ.
Tự lực, tự cường là nguyên nhân của mọi thắng lợi, nên khi miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã kêu gọi nhân dân: “Trước đây, nhân dân ta đã nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, trường kỳ kháng chiến, thì ngày nay chúng ta càng phải nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng nước nhà”.
Nhờ tinh thần, ý chí ấy, dù đi từ xuất phát điểm thấp và trong điều kiện đất nước bị chia cắt lâu dài, thành tựu đạt được trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã làm cho miền Bắc “thay da, đổi thịt” và hoàn thành xuất sắc vai trò của hậu phương lớn với tiền tuyến lớn - miền Nam.
Với kinh nghiệm 30 năm hoạt động quốc tế, Hồ Chí Minh đã coi tự lực, tự cường là điều kiện để thiết lập quan hệ ngoại giao vì “thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Ngược lại, nếu không có thực lực thì không thể nói gì đến ngoại giao, càng không thể mong muốn sự bình đẳng, độc lập, tự chủ, mà “chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu là kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”.
Tuy nhiên, tự lực, tự cường không có nghĩa là đóng kín, khước từ mọi sự giúp đỡ ở bên ngoài, mà là tìm mọi cách gia tăng sự ủng hộ của thế giới để nhân lên sức mạnh của nội lực. Do vai trò quyết định của nội lực đối với ngoại lực, nên Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”. Vì thế, tăng cường nội lực và phát huy tinh thần tự lực, tự cường cũng chính là tăng cường sức mạnh quốc tế, qua đó, tạo dựng sức mạnh tổng hợp cho dân tộc.
Hồ Chí Minh - biểu tượng cao quý của tinh thần tự lực, tự cường
Sinh ra trong cảnh “nước mất, nhà tan”, năm 21 tuổi, với ý chí “dời non, lấp bể”, Nguyễn Tất Thành đã một mình sang phương Tây tìm đường cứu nước mà không dựa vào sự tài trợ, giúp đỡ của một tổ chức hay cá nhân nào. Suốt chặng đường đi tìm chân lý, Người đã phải sống trong sự thiếu thốn về vật chất và đối mặt với vô vàn những tình huống nguy hiểm, nhưng không một gian truân nào có thể bẻ gãy ý chí của con người nung nấu tinh thần tự lực, tự cường để giải phóng quê hương.
Trở thành người đứng đầu cuộc chiến tranh giải phóng, trong khi các thế lực đế quốc như Pháp, Nhật và sau này là Mỹ, có đầy đủ một thiết chế chính trị - quân sự hùng hậu, thì Hồ Chí Minh chỉ có ý chí cứu nước và niềm tin mãnh liệt vào Nhân dân. Là nhà lập quốc, Người đã chủ động, quyết đoán trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, thành lập Mặt trận trong phạm vi dân tộc (Việt Nam Độc lập đồng minh), thành lập Quân đội Nhân dân và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong những điều kiện rất khó khăn.
Trong các thời khắc nguy cấp của lịch sử, Người và Đảng ta đã chủ động trong việc rút vào hoạt động bí mật (năm 1945) và sau đó, ra hoạt động công khai (năm 1951). Hồ Chí Minh - con người đã nhẫn nại ký kết Hiệp định Sơ bộ 6/3/1945 và Tạm ước 14/9/1946 với chính phủ Pháp, cũng chính là người viết lời hịch cứu nước vào năm 1946 và năm 1966 với tinh thần “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ ” và “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.
Suốt đời, Hồ Chí Minh đã sống theo tinh thần: “Kiên trì và nhẫn nại/ Không chịu lùi một phân/ Vật chất tuy đau khổ/ Không nao núng tinh thần”. Với tinh thần tự lực, tự cường và tư thế ung dung, tự tại, Người đã chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua muôn trùng bão tố để cập bến thành công.
Phát huy tinh thần tự lực, tự cường của đất nước hôm nay
Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã có được cơ đồ, vị thế, tiềm lực to lớn chưa từng có. Những thành tựu đáng tự hào đó là sự hội tụ của nhiều yếu tố, trong đó, phải kể đến sức mạnh của ý chí tự lực, tự cường dân tộc. Thấu hiểu nguyên nhân đó, Văn kiện Đại hội XIII đã coi phát huy ý chí tự lực, tự cường là một trong những động lực quan trọng để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Đại hội XIV của Đảng diễn ra khi đất nước bước vào kỷ nguyên “vươn mình”, nhưng “vươn mình” phải là một tư thế hoàn toàn chủ động dựa trên tâm thế và nội lực vững chắc. Vì vậy, tại Đại hội XIV, Đảng đã phát đi thông điệp về “tự chủ chiến lược” và sự cần thiết phải khơi dậy “ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc” để đạt được các mục tiêu đặt ra.
Ý thức sâu sắc về vai trò “cầm lái” của Đảng, tại Hội nghị học tập Nghị quyết Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã quán triệt các nhiệm vụ cấp thiết cần thực hiện mà ở đó, tất cả đều toát lên tinh thần tự chủ chiến lược của Đảng về phương hướng, phương châm hành động. Khi đường hướng hành động đã có, cái cần thiết lúc này là, mỗi tổ chức, mỗi cá nhân phải thực hiện nhiệm vụ được giao với tinh thần quyết liệt hơn nữa, tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường hơn nữa để đạt được những kết quả rõ ràng, thực chất. Nếu “ý Đảng” và “lòng dân” cùng nhau thống nhất ở ý chí ấy, thì nội lực dân tộc sẽ được nhân lên gấp bội.
Ngày mai luôn bắt đầu từ ngày hôm nay. Tương lai tươi sáng của dân tộc được tạo dựng bởi ý chí tự chủ và hành động tự lực, tự cường và ngược lại, mọi sự phụ thuộc, lệ thuộc, tự ti, hèn nhát đều dẫn đến kết cục là chủ quyền dân tộc bị tước bỏ. Vì thế, phát huy hơn nữa tinh thần quật khởi đã được hun đúc trong hàng ngàn năm lịch sử và được nâng tầm bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, chính là mệnh lệnh của thực tiễn đất nước hôm nay.