Đầu tư tài chính
Tỷ giá nửa cuối năm: Giữ cân bằng giữa nhiều sức ép
Thùy Vinh - 16/09/2026 09:43
Nhu cầu ngoại tệ được dự báo tiếp tục tăng trong những tháng cuối năm, trong khi cán cân thương mại lệch sang nhập siêu, kiều hối giảm và khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt. Tất cả những yếu tố này tạo sức ép lên tỷ giá.

Sức ép cung - cầu ngoại tệ

Nửa đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam tiếp tục cho thấy sức bật đáng chú ý. Hoạt động thương mại tăng trưởng mạnh, đầu tư duy trì tích cực, du lịch phục hồi tốt và niềm tin của khu vực doanh nghiệp nhìn chung vẫn được giữ vững.

Trong bức tranh đó, xuất khẩu và nhập khẩu cùng tăng nhanh. Theo ông Ngô Đăng Khoa, Giám đốc toàn quốc Khối kinh doanh vốn, tiền tệ và thị trường chứng khoán (HSBC Việt Nam), đây là một tín hiệu đáng khích lệ, phản ánh nền kinh tế không chỉ phục hồi theo chiều rộng, mà còn đang chuẩn bị năng lực cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo.

Nhu cầu ngoại tệ dự báo tiếp tục tăng trong những tháng cuối năm, gây áp lực lên tỷ giá 

Tuy nhiên, khi nền kinh tế đi nhanh hơn, bài toán điều hành vĩ mô cũng trở nên phức tạp hơn. Tăng trưởng mạnh thường đi cùng với nhu cầu vốn lớn, nhu cầu nhập khẩu đầu vào cao hơn, nhu cầu thanh toán quốc tế lớn hơn và vì vậy, áp lực lên cung - cầu ngoại tệ, lãi suất và kỳ vọng thị trường cũng trở nên rõ nét hơn. Nửa cuối năm 2026, vì thế, là câu chuyện của việc giữ cân bằng trong một môi trường ngày càng nhạy cảm hơn.

Tính đến hết tháng 7/2026, cán cân thương mại hàng hóa có sự mất cân đối khi nhập siêu 20,52 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm 2025 xuất siêu 10,18 tỷ USD. Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở quy mô nhập siêu, mà còn ở cấu trúc của nó. Khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 28,5 tỷ USD, trong khi khu vực FDI vẫn xuất siêu 7,98 tỷ USD. Nhập khẩu tăng 34,8%, trong khi xuất khẩu chỉ tăng 21,7%, phản ánh nhu cầu ngoại tệ phục vụ sản xuất, vốn ít nhạy cảm với các thay đổi của chính sách tiền tệ bên ngoài. Trong nửa cuối năm, áp lực cung - cầu ngoại tệ có thể rõ hơn do yếu tố mùa vụ.

HSBC cho rằng, quý III thường là giai đoạn doanh nghiệp tăng nhập nguyên liệu cho chu kỳ sản xuất cuối năm, đồng thời cũng là thời điểm nhiều doanh nghiệp FDI thực hiện chuyển lợi nhuận, thanh toán nội bộ hoặc cơ cấu lại dòng tiền. Vì vậy, cung - cầu ngoại tệ khả năng tiếp tục ở trạng thái căng hơn so cùng kỳ một số năm trước.

Trong khi đó, kiều hối chuyển về TP.HCM trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt 4,04 tỷ USD, giảm 22,8% so với cùng kỳ và giảm 21% so với nửa cuối năm 2025. Với tỷ trọng khoảng 55-60% tổng lượng kiều hối cả nước, mức giảm này hàm ý dòng kiều hối qua hệ thống ngân hàng có thể hụt khoảng 1,5-2 tỷ USD trong nửa đầu năm.

Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, Chi nhánh Khu vực 2 xác định hai nguyên nhân mang tính cấu trúc: lãi suất tiền gửi ngoại tệ 0% làm triệt tiêu động lực chuyển vốn về nước và dòng tiền phân tán qua các kênh thanh toán mới khiến doanh số ghi nhận qua hệ thống ngân hàng giảm tương đối. Dù xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau, cả hai đều làm giảm lượng ngoại tệ đi qua hệ thống ngân hàng, qua đó làm giảm khả năng bổ sung dự trữ ngoại hối...

Báo cáo chiến lược triển vọng 6 tháng cuối năm 2026 của Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS) nhận định, nếu lạm phát tại Mỹ tiếp tục neo ở mức cao, Fed có thể cân nhắc tăng lãi suất vào cuối quý III/2026 hoặc quý IV/2026, qua đó hỗ trợ Chỉ số USD-Index phục hồi và tạo thêm áp lực lên tỷ giá VND/USD.


Nhận diện áp lực trong nửa cuối năm

Nhóm phân tích VCBS cho rằng, tỷ giá hối đoái tại Việt Nam chỉ chịu áp lực tăng nhẹ do được bù đắp bởi các yếu tố tích cực của nền kinh tế trong nước. Đó là dòng vốn FDI duy trì giải ngân cao và kỳ vọng tiếp tục được đẩy mạnh; hoạt động xuất khẩu vẫn tăng trưởng tốt; giá vàng thế giới đã giảm, điều này làm giảm bớt nhu cầu nhập khẩu vàng, qua đó giảm nhu cầu USD tại thị trường tự do. Bởi vậy, VCBS dự báo VND có thể giảm giá khoảng 3% so với USD trong cả năm 2026. Theo giới phân tích, đây là mức hợp lý.

Các chuyên gia của Ngân hàng Techcombank thì điều chỉnh dự báo theo hướng VND thậm chí có thể lên giá so với USD và tỷ giá có khả năng xuống dưới mức 26.000 VND/USD vào cuối năm. Dù vậy, Bộ phận Phân tích kinh tế và tình hình tài chính Techcombank cho rằng, lãi suất giảm mạnh không phải là điều dễ đạt được, đặc biệt trong bối cảnh áp lực tăng trưởng khiến nhu cầu vốn vẫn ở mức cao. Nhưng nếu mặt bằng lãi suất liên ngân hàng duy trì thấp và ổn định đủ lâu, điều này cũng có thể tạo thêm dư địa để lãi suất tiền gửi giảm nhẹ cuối năm. Việc lãi suất chỉ giảm ở mức tương đối nhẹ là tiền đề giúp tỷ giá duy trì ổn định trong năm 2026.

Theo Techcombank, Fed nhiều khả năng sẽ giữ nguyên lãi suất và điều này sẽ giúp định hình lại vùng kỳ vọng đối với USD Index (DXY) ở mức dưới 100 điểm, qua đó góp phần hỗ trợ ổn định tỷ giá VND/USD. Còn trong kịch bản Fed không tăng lãi suất USD, còn lãi suất VND chỉ giảm nhẹ, chênh lệch lãi suất giữa VND và USD vẫn có thể duy trì ở mức cao trên 3%. Đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất giúp tỷ giá ổn định trong thời gian qua, khi góp phần thu hút nguồn cung USD từ bên ngoài, qua đó bù đắp một phần cho trạng thái thâm hụt thương mại. Áp lực này đồng thời cũng được giảm tải nhờ mức tăng trưởng kỷ lục của giải ngân FDI.

Ông Ngô Đăng Khoa cho rằng, trong nửa cuối năm 2026, áp lực cung - cầu ngoại tệ có thể rõ hơn do yếu tố mùa vụ. Dù vậy, kịch bản cơ sở vẫn là tỷ giá VND/USD biến động theo hướng tăng vừa phải, bởi Việt Nam hiện vẫn có nhiều yếu tố hỗ trợ quan trọng như tăng trưởng GDP cao, FDI giải ngân tích cực, du lịch phục hồi mạnh và triển vọng xuất khẩu lớn. Định hướng điều hành mới tiếp tục nhấn mạnh việc phối hợp đồng bộ giữa tỷ giá, lãi suất, cung tiền, thanh khoản, tín dụng. Ngân hàng Nhà nước được yêu cầu chủ động điều chỉnh cường độ, liều lượng, thời điểm sử dụng các công cụ thuộc thẩm quyền, đồng thời xác định các ngưỡng cảnh báo để phản ứng kịp thời trước thay đổi của thị trường.

Việc điều hành tỷ giá, vì vậy, nhiều khả năng sẽ tiếp tục theo hướng linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường và được phối hợp chặt chẽ với các công cụ chính sách tiền tệ khác. Theo ông Khoa, một điểm đáng chú ý của chu kỳ hiện nay là mối quan hệ giữa tỷ giá và lãi suất đã trở nên linh hoạt và đa chiều hơn so với trước. Nếu như ở một số giai đoạn trước, thị trường thường nhìn khá trực diện rằng áp lực tỷ giá tăng thì lãi suất phải tăng để bảo vệ đồng nội tệ, thì hiện nay bài toán điều hành phức tạp hơn nhiều. Lý do được ông Khoa đưa ra là nền kinh tế Việt Nam đang ở trong một chu kỳ tăng trưởng cao hơn, nhu cầu tín dụng lớn hơn, trong khi áp lực tỷ giá không chỉ đến từ yếu tố bên ngoài như USD mạnh lên, mà còn đến từ chính nhu cầu ngoại tệ phục vụ thương mại, đầu tư, thanh toán. Như vậy, lãi suất hiện không chỉ là công cụ để hỗ trợ tỷ giá, mà phải đồng thời cân bằng nhiều mục tiêu khác như hỗ trợ tăng trưởng, kiểm soát lạm phát, duy trì thanh khoản…

Tuy nhiên, ông Khoa cũng cho rằng, trong bối cảnh lãi suất điều hành được duy trì, mặt bằng lãi suất huy động và lãi suất liên ngân hàng vẫn cần được theo dõi sát, bởi diễn biến này phản ánh tương tác giữa nhu cầu tín dụng, thanh khoản hệ thống, kỳ vọng tỷ giá và ổn định mặt bằng lãi suất cho vay. Một số tín hiệu cho thấy, tâm lý thị trường đã thận trọng hơn, như tỷ giá phản ứng nhạy hơn với nhu cầu ngoại tệ nội địa, hay mặt bằng lãi suất VND ngắn hạn được duy trì ở mức phù hợp để hỗ trợ ổn định kỳ vọng. Một trong những điểm cần lưu ý cho nửa cuối năm, theo các chuyên gia phân tích HSBC, là thị trường có thể đang tương đối lạc quan về khả năng các áp lực sẽ tiếp tục được kiểm soát riêng lẻ. Những yếu tố hiện vẫn nằm trong vùng quản lý được như giá dầu đã hạ nhiệt so với giai đoạn căng thẳng nhất, lạm phát có dấu hiệu dịu hơn và tỷ giá vẫn đang vận động trong cơ chế linh hoạt.

Phạm vi điều hành sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào khả năng phối hợp đồng thời giữa tỷ giá, lãi suất, thanh khoản, tín dụng và các chính sách tài khóa, song rủi ro thực sự nằm ở khả năng nhiều áp lực cùng hội tụ trong một thời điểm. Theo các chuyên gia, nếu trong nửa cuối năm xuất hiện đồng thời 3 yếu tố là giá năng lượng tăng trở lại, Fed duy trì lập trường cao lâu hơn dự kiến và cầu ngoại tệ nội địa tăng mạnh theo mùa vụ, thị trường có thể nhanh chóng điều chỉnh, làm gia tăng áp lực lên tỷ giá.

Tin liên quan
Tin khác