Đáng chú ý trong Nghị quyết là các quy định về xử lý nhà, đất dôi dư trong một số trường hợp đặc biệt. Đối với cơ sở nhà, đất dôi dư sau khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính (không bao gồm trường hợp nhà, đất có tranh chấp hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhà, đất cho mượn, cho thuê, hợp tác, kinh doanh, liên doanh, liên kết không đúng quy định) thuộc trường hợp áp dụng chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý theo quy định thì trên cơ sở đề xuất của cơ quan, tổ chức, đơn vị có cơ sở nhà, đất, cơ quan, người có thẩm quyền quyết định chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công xem xét, quyết định chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý theo nguyên trạng; không phải thực hiện thủ tục lấy ý kiến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Việc chuyển giao theo nguyên trạng được thực hiện đối với cả cơ sở nhà, đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không đầy đủ hoặc mất hồ sơ pháp lý về nhà, đất, chưa xử lý xong việc lấn chiếm, bố trí làm nhà ở, chưa xác định đầy đủ ranh giới trên thực địa.
Cơ quan, tổ chức, đơn vị có cơ sở nhà, đất có trách nhiệm lập biên bản kiểm kê, mô tả hiện trạng, bàn giao hồ sơ, tài liệu hiện có và chịu trách nhiệm về tính trung thực của thông tin, tài liệu do mình cung cấp, chịu trách nhiệm về việc không có hoặc mất hồ sơ pháp lý về nhà, đất.
| Thời hạn thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù quy định tại Nghị quyết này là 5 năm, kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành. |
Trên cơ sở Quyết định chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý của cơ quan, người có thẩm quyền, cơ quan, tổ chức, đơn vị có cơ sở nhà, đất phối hợp với cơ quan của địa phương được giao nhiệm vụ tiếp nhận lập Biên bản bàn giao, tiếp nhận, trong đó ghi nhận cụ thể ranh giới, hiện trạng nhà, đất và hồ sơ, giấy tờ tại thời điểm bàn giao, tiếp nhận.
Cơ quan, tổ chức, đơn vị có cơ sở nhà, đất có trách nhiệm phối hợp với cơ quan chức năng của địa phương để xử lý các vấn đề liên quan đến cơ sở nhà, đất sau khi đã chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý. Việc xử lý trách nhiệm của các tập thể, cá nhân vi phạm (nếu có) đối với các cơ sở nhà, đất chuyển giao được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.
Việc xử lý đối với phần diện tích bị lấn chiếm sau khi tiếp nhận được thực hiện theo quy định tại Điều 139 Luật Đất đai. Việc xử lý đối với các trường hợp còn lại sau khi tiếp nhận được thực hiện theo quy định tại khoản 7 Điều 37 Nghị định số 186/2025/NĐ-CP.
Trường hợp cơ sở nhà, đất đã có Quyết định chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý mà cơ quan tiếp nhận tài sản chuyển giao theo Quyết định chuyển giao hoặc Văn bản giao nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là Ủy ban nhân dân cấp xã mà nay Ủy ban nhân dân cấp xã có nhu cầu chuyển đổi công năng sang mục đích công cộng (vườn hoa, sân chơi, điểm sinh hoạt cộng đồng và các mục đích công cộng khác) thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định việc chuyển đổi công năng theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 186/2025/NĐ-CP, không phải thực hiện thủ tục trình cấp có thẩm quyền Quyết định giao, điều chuyển cho Ủy ban nhân dân cấp xã.
Trường hợp có cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhu cầu sử dụng tạm thời cơ sở nhà, đất đã chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (trong trường hợp cơ quan tiếp nhận tài sản chuyển giao là cơ quan, đơn vị thuộc cấp tỉnh), Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã (trong trường hợp cơ quan tiếp nhận tài sản chuyển giao là cơ quan, đơn vị thuộc cấp xã) quyết định việc bố trí sử dụng tạm thời cho cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng theo quy định về khai thác tài sản có quyết định thu hồi tại Nghị định số 186/2025/NĐ-CP.
Đối với cơ sở nhà, đất dôi dư chuyển đổi công năng sang mục đích công cộng (vườn hoa, sân chơi, công trình phục vụ cộng đồng khác), sử dụng làm cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, khu làm việc chung hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo mà nhà, công trình gắn liền với đất hiện có không phù hợp với mục đích sử dụng mới thì cơ quan, người có thẩm quyền quyết định chuyển đổi công năng theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 186/2025/NĐ-CP chịu trách nhiệm xác định tính phù hợp của nhà, công trình gắn liền với đất hiện có với mục đích sử dụng mới và quyết định phá dỡ, hủy bỏ nhà, công trình gắn liền với đất để sử dụng đất theo mục đích sử dụng mới (không bao gồm trường hợp nhà, công trình gắn liền với đất được phá dỡ, hủy bỏ theo dự án đầu tư được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt hoặc phá dỡ, hủy bỏ do bồi thường, giải phóng mặt bằng); không phải thực hiện thủ tục báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định thanh lý tài sản.
Việc phá dỡ, hủy bỏ tài sản quy định tại khoản này được thực hiện kể cả trong trường hợp tài sản vẫn còn khả năng sử dụng, chưa hết thời gian tính khấu hao/hao mòn theo quy định.
Đối với cơ sở nhà, đất dôi dư thực hiện chuyển đổi công năng để làm trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp công lập, các mục đích công cộng, quốc phòng, an ninh thì việc cập nhật, điều chỉnh các chỉ tiêu phân bổ, khoanh vùng đất đai trong quy hoạch tỉnh đã được phân bổ đến cấp xã, quy hoạch đô thị và nông thôn, quy hoạch ngành (bao gồm cả quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh) được thực hiện sau khi thực hiện chuyển đổi công năng theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền.
Đối với nhà, đất dôi dư đã có quyết định thu hồi và giao cho tổ chức phát triển quỹ đất quản lý, khai thác và nhà, đất có quyết định chuyển giao về địa phương để quản lý, xử lý, sau đó thực hiện giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc xử lý nhà, tài sản gắn liền với đất được thực hiện như sau:
Căn cứ tình hình thực tế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (trong trường hợp thẩm quyền giao đất, cho thuê đất thuộc cấp tỉnh), Ủy ban nhân dân cấp xã (trong trường hợp thẩm quyền giao đất, cho thuê đất thuộc cấp xã) quyết định việc phá dỡ, hủy bỏ nhà, tài sản gắn liền với đất trước khi thực hiện giao đất, cho thuê đất.
Đối với trường hợp phá dỡ, hủy bỏ nhà, tài sản gắn liền với đất trước khi giao đất, cho thuê đất thì người được giao đất, cho thuê đất không phải hoàn trả cho Nhà nước giá trị của nhà, tài sản gắn liền với đất.
Việc xử lý vật tư, vật liệu thu hồi được từ phá dỡ, hủy bỏ do cơ quan tiếp nhận tài sản chuyển giao thực hiện theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 186/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 44 Nghị định số 52/2026/NĐ-CP).
Đối với trường hợp không phá dỡ, hủy bỏ nhà, tài sản gắn liền với đất trước khi giao đất, cho thuê đất thì người được giao đất, cho thuê đất có trách nhiệm hoàn trả Nhà nước giá trị còn lại của nhà, tài sản gắn liền với đất được cơ quan tiếp nhận tài sản chuyển giao theo dõi, hạch toán tại thời điểm giao đất, cho thuê đất; nhà, tài sản gắn liền với đất thuộc về người được giao đất, cho thuê đất.
Trường hợp nhà, tài sản gắn liền với đất chưa được theo dõi, hạch toán trên sổ kế toán hoặc việc tính hao mòn chưa phù hợp thì cơ quan tiếp nhận tài sản chuyển giao xác định giá trị còn lại của nhà, tài sản gắn liền với đất theo quy định của Bộ Tài chính về chế độ quản lý, tính hao mòn, khấu hao tài sản cố định tại cơ quan, tổ chức, đơn vị và tài sản cố định do Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý không tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Trường hợp người được giao đất, cho thuê đất là cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức hội được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ thì không phải hoàn trả giá trị còn lại của nhà, tài sản gắn liền với đất.
Đối với nhà, tài sản gắn liền với đất được đầu tư xây dựng trên đất của tổ chức, cá nhân khác mà tổ chức, cá nhân đó không phải là cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (người sử dụng đất được xác định theo quy định của pháp luật về đất đai khác với cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng nhà, tài sản gắn liền với đất) mà cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng không còn nhu cầu sử dụng:
Trường hợp tổ chức, cá nhân có đất có nhu cầu tiếp nhận lại nhà, tài sản gắn liền với đất thì cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng tài sản ban hành Quyết định chuyển giao nhà, tài sản gắn liền với đất cho tổ chức, cá nhân có đất sau khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; trên cơ sở đó, tổ chức thực hiện việc bàn giao, tiếp nhận tài sản.
Tổ chức, cá nhân có đất nhận chuyển giao tài sản có trách nhiệm hoàn trả cho Nhà nước giá trị còn lại của nhà, tài sản gắn liền với đất theo sổ kế toán tại thời điểm quyết định.
Trường hợp nhà, tài sản gắn liền với đất chưa được theo dõi, hạch toán trên sổ kế toán thì cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng tài sản xác định giá trị còn lại của nhà, tài sản gắn liền với đất theo hướng dẫn của Bộ Tài chính về chế độ quản lý, tính hao mòn, khấu hao tài sản cố định tại cơ quan, tổ chức, đơn vị và tài sản cố định do Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý không tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Trường hợp tổ chức, cá nhân có đất không có nhu cầu tiếp nhận lại tài sản thì được thanh lý tài sản theo hình thức phá dỡ, hủy bỏ (bao gồm cả trường hợp tài sản vẫn còn khả năng sử dụng, chưa hết thời gian tính khấu hao/hao mòn theo quy định) và bàn giao lại mặt bằng cho tổ chức, cá nhân có đất. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện thanh lý và xử lý vật tư, vật liệu thu hồi được từ phá dỡ, hủy bỏ được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 186/2025/NĐ-CP, Nghị định số 52/2026/NĐ-CP.
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 24/6/2026.