Đầu tư tài chính
Xử phạt vi phạm hành chính về tài sản mã hoá và thị trường tài sản mã hoá
M.V - 01/08/2026 13:06
Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm quy định tại Nghị định 284/2026/NĐ-CP là 200 triệu đồng đối với tổ chức và 100 triệu đồng đối với cá nhân, tương ứng với mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số.

Với mục tiêu cụ thể hoá các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa, phát triển lĩnh vực công nghiệp công nghệ số; bảo đảm thực thi Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP ngày 09/9/2025 của Chính phủ về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam (Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP), Luật Công nghiệp công nghệ số, Luật Phòng, chống rửa tiền, Luật Phòng, chống khủng bố, Luật Xử lý vi phạm hành chính; đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa, góp phần bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong giai đoạn thí điểm, ngày 16/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 284/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa (Nghị định số 284/2026/NĐ-CP).

Nghị định gồm 4 chương, 23 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026 đến ngày Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP hết hiệu lực thi hành, với những nội dung cơ bản sau đây:

Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng

Nghị định này quy định các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam theo Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP.

Nghị định áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài thực hiện hành vi vi phạm; người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Tổ chức thuộc đối tượng áp dụng bao gồm tổ chức phát hành tài sản mã hóa, tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa, tổ chức thành lập theo pháp luật Việt Nam và tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài tham gia đầu tư tài sản mã hóa và hoạt động trên thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam trong phạm vi quy định tại Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP và các tổ chức khác có liên quan đến hoạt động chào bán, phát hành tài sản mã hóa, tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa tại Việt Nam.

Hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả và mức phạt tiền tối đa

Hình thức xử phạt chính được quy định tại Nghị định gồm: Cảnh cáo và phạt tiền. Các hình thức xử phạt bổ sung gồm: Tước quyền sử dụng Giấy phép cung cấp dịch vụ tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa có thời hạn; đình chỉ hoạt động chào bán, phát hành tài sản mã hóa có thời hạn; đình chỉ hoạt động cung cáp dịch vụ tài sản mã hóa có thời hạn và tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

Các biện pháp khắc phục hậu quả gồm: Buộc hủy bỏ, cải chính hoặc cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp; buộc gỡ bỏ trang thông tin điện tử, phần mềm, hệ thống giao dịch và thiết bị được sử dụng để vi phạm; buộc hủy bỏ đợt chào bán, phát hành và hoàn trả toàn bộ số tiền đã thu; buộc nộp lại số tiền bằng giá trị tang vật, phương tiện vi phạm đã bị tiêu thụ, tẩu tán hoặc tiêu hủy trái pháp luật.

Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm quy định tại Nghị định này là 200 triệu đồng đối với tổ chức và 100 triệu đồng đối với cá nhân, tương ứng với mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số theo Luật Xử lý vi phạm hành chính. Mức phạt tiền tại Chương II Nghị định này được quy định đối với tổ chức; cá nhân có cùng hành vi vi phạm bị phạt bằng một phần hai mức phạt đối với tổ chức.

Về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa là 1 năm. Trường hợp vụ việc được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chuyển đến thì thời hiệu được kéo dài thêm 1 năm. Nghị định xác định cụ thể thời điểm chấm dứt đối với một số hành vi về công bố, báo cáo, điều chỉnh giấy phép và quản lý tách biệt tiền, tài sản mã hóa của khách hàng, qua đó tạo căn cứ thống nhất để tính thời hiệu xử phạt.

Các nhóm hành vi vi phạm và quy định xử phạt

Vi phạm quy định về chào bán, phát hành tài sản mã hóa

Điều 6 Nghị định số 284/2026/NĐ-CP quy định chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động chào bán, phát hành tài sản mã hóa trên cơ sở các điều kiện, nghĩa vụ và trách nhiệm của tổ chức phát hành được xác lập tại Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP. Tổ chức phát hành bị phạt tiền từ 70 triệu đồng đến 100 triệu đồng đối với hành vi vi phạm quy định về sở hữu nước ngoài đối với tài sản làm cơ sở cho việc phát hành tài sản mã hóa; từ 100 triệu đồng đến 150 triệu đồng đối với hành vi cung cấp thông tin không chính xác, không đầy đủ, không kịp thời hoặc gây hiểu nhầm cho cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa, nhà đầu tư và từ 150 triệu đồng đến 200 triệu đồng đối với hành vi chào bán, phát hành không đúng đối tượng, không đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định, không công bố Bản cáo bạch và các tài liệu có liên quan hoặc không thực hiện đúng các thông tin đã công bố tại Bản cáo bạch.

Bên cạnh hình thức phạt tiền, tùy từng hành vi vi phạm, tổ chức phát hành còn có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động chào bán, phát hành tài sản mã hóa có thời hạn với khung thời gian đình chỉ từ 03 tháng đến 12 tháng; đồng thời bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ hoặc buộc hủy bỏ đợt chào bán, phát hành và trả lại toàn bộ số tiền thu được từ đợt chào bán, phát hành.

Vi phạm quy định về tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa

Điều 7 Nghị định số 284/2026/NĐ-CP quy định chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm trong hoạt động tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa trên cơ sở nguyên tắc chỉ tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa được Bộ Tài chính cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa mới được thực hiện hoạt động này. Tổ chức vi phạm bị phạt tiền từ 70 triệu đồng đến 100 triệu đồng đối với hành vi không công bố thông tin về ngày chính thức cung cấp dịch vụ theo quy định; từ 100 triệu đồng đến 150 triệu đồng đối với hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ sau khi bị thu hồi Giấy phép; từ 150 triệu đồng đến 180 triệu đồng đối với hành vi không nộp hồ sơ điều chỉnh Giấy phép khi có thay đổi thuộc trường hợp phải điều chỉnh hoặc hoạt động không đúng nội dung ghi trong Giấy phép; và từ 180 triệu đồng đến 200 triệu đồng đối với hành vi cung cấp dịch vụ hoặc quảng cáo, tiếp thị liên quan đến tài sản mã hóa khi chưa được cấp Giấy phép.

Bên cạnh hình thức phạt tiền, tổ chức hoạt động không đúng nội dung ghi trong Giấy phép còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép cung cấp dịch vụ tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa từ 1 tháng đến 3 tháng; trường hợp cung cấp dịch vụ khi chưa được cấp Giấy phép còn bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Tùy từng hành vi, tổ chức vi phạm còn bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp; buộc gỡ bỏ trang thông tin điện tử, phần mềm, hệ thống giao dịch và các trang thiết bị khác được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm; buộc nộp lại số tiền bằng giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán hoặc tiêu hủy trái quy định pháp luật; hoặc buộc hủy bỏ, cải chính thông tin.

Vi phạm trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa

Điều 8 quy định hệ thống chế tài từ cảnh cáo đến phạt tiền 200 triệu đồng đối với các hành vi vi phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa theo khoản 2 và khoản 3 Điều 15 Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP. Đây là chủ thể trực tiếp tổ chức, vận hành thị trường giao dịch, kiểm soát điều kiện tham gia, quản lý tiền và tài sản mã hóa của khách hàng, lưu trữ dữ liệu, giám sát giao dịch và cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý nhà nước. Hình thức cảnh cáo được áp dụng đối với hành vi không thực hiện trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến kiến thức về tài sản mã hóa cho nhà đầu tư.

Mức phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng được áp dụng đối với các hành vi không đăng tải trong thời hạn quy định các quy trình, báo cáo tài chính năm được kiểm toán hoặc báo cáo vốn điều lệ đã góp được kiểm toán; ban hành quy trình sửa đổi, bổ sung khi chưa có ý kiến của Bộ Tài chính; không thực hiện việc cung cấp thông tin trong thời hạn quy định cho Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Công an về các đợt phát hành và tình hình thị trường giao dịch tài sản mã hóa; không công khai hoặc không thông báo đúng quy định về biểu giá dịch vụ. Hành vi không xác minh danh tính nhà đầu tư mở tài khoản bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 70 triệu đồng. Đối với hành vi chậm công bố thông tin, mức phạt từ 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng được xác định theo thời gian chậm công bố.

Mức phạt tiền từ 70 triệu đồng đến 100 triệu đồng được áp dụng đối với hành vi không thực hiện báo cáo theo yêu cầu của cơ quan quản lý hoặc không bảo đảm thông tin quảng cáo, tiếp thị chính xác, đầy đủ, rõ ràng và không gây hiểu nhầm. Các hành vi không quản lý tách biệt tiền, tài sản mã hóa của từng khách hàng với tiền, tài sản mã hóa của tổ chức cung cấp dịch vụ; không giám sát giao dịch; không báo cáo Bộ Tài chính trong trường hợp có thông tin liên quan đến doanh nghiệp ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; không báo cáo việc lựa chọn tài sản mã hóa đưa vào giao dịch; không lưu trữ dữ liệu trên hệ thống máy chủ tại Việt Nam; không thực hiện trách nhiệm phòng ngừa xung đột lợi ích; hoặc không bảo đảm điều kiện đối với bên thứ ba cung cấp dịch vụ hỗ trợ bị phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 150 triệu đồng.

Mức phạt tiền từ 150 triệu đồng đến 200 triệu đồng được áp dụng đối với các hành vi có tính chất nghiêm trọng hơn, gồm: Không bảo đảm điều kiện phát hành, tính đầy đủ, chính xác của Bản cáo bạch và các thông tin phải công bố khi cung cấp nền tảng phát hành tài sản mã hóa; không bảo đảm nhà đầu tư được cung cấp dịch vụ đáp ứng điều kiện theo quy định hoặc việc mở tài khoản tuân thủ đúng nguyên tắc; không bảo đảm tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ nộp cho cơ quan quản lý; không bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống công nghệ thông tin hoặc không bảo vệ tài sản của khách hàng.

Bên cạnh hình thức phạt tiền, tổ chức thực hiện các hành vi thuộc nhóm vi phạm bị phạt từ 100 triệu đồng đến 150 triệu đồng còn bị đình chỉ hoạt động cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa từ 01 tháng đến 03 tháng; đối với nhóm hành vi bị phạt từ 150 triệu đồng đến 200 triệu đồng, thời hạn đình chỉ từ 03 tháng đến 06 tháng. Đối với hành vi cung cấp thông tin quảng cáo, tiếp thị không đúng quy định, tổ chức vi phạm còn bị buộc hủy bỏ hoặc cải chính thông tin.

Vi phạm quy định về giao dịch tài sản mã hóa

Điều 9 quy định chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm của nhà đầu tư trong nước nhằm bảo đảm hoạt động giao dịch tài sản mã hóa được thực hiện trong phạm vi thí điểm, thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa được Bộ Tài chính cấp phép và đúng đối tượng tham gia theo Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP. Theo đó, nhà đầu tư trong nước giao dịch tài sản mã hóa không thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ được Bộ Tài chính cấp phép bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng.

Trường hợp nhà đầu tư trong nước giao dịch tài sản mã hóa thuộc đợt chào bán, phát hành dành cho nhà đầu tư nước ngoài theo khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP thì bị phạt tiền từ 70 triệu đồng đến 100 triệu đồng.

Vi phạm quy định liên quan đến chuyển tiền của nhà đầu tư nước ngoài

Điều 10 quy định chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm liên quan đến việc chuyển tiền mua, bán tài sản mã hóa, trên cơ sở trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài, ngân hàng được phép nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản chuyên dùng theo Điều 13 Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP.

Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài vi phạm quy định về việc mở, đóng, sử dụng tài khoản thanh toán để thực hiện các giao dịch thu, chi liên quan đến mua, bán tài sản mã hóa tại Việt Nam bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Trường hợp không bảo đảm tính xác thực, hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ, tài liệu, thông tin, dữ liệu cung cấp cho ngân hàng được phép nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản chuyên dùng hoặc kê khai không trung thực, không đầy đủ nội dung giao dịch thì bị phạt tiền từ 70 triệu đồng đến 100 triệu đồng.

Đối với ngân hàng được phép nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản chuyên dùng, hành vi chậm báo cáo về tình hình thu, chi trên tài khoản bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng, tùy theo thời gian chậm báo cáo. Mức phạt tiền từ 70 triệu đồng đến 100 triệu đồng được áp dụng đối với các hành vi không kiểm tra, không lưu giữ hoặc lưu giữ không đầy đủ, không phù hợp giấy tờ, chứng từ liên quan đến giao dịch; không ban hành hoặc ban hành không đầy đủ quy định nội bộ, không công khai quy định nội bộ để nhà đầu tư nước ngoài biết và thực hiện; mở, đóng tài khoản hoặc thực hiện các giao dịch thu, chi trên tài khoản chuyên dùng không đúng quy định.

Hành vi thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, tặng cho, công khai hóa trái phép dữ liệu, thông tin tài khoản tài sản mã hóa

Điều 11 quy định chế tài đối với hành vi thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, tặng cho hoặc công khai hóa trái phép dữ liệu, thông tin tài khoản tài sản mã hóa, nhằm bảo vệ tính bí mật, an toàn của dữ liệu và quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia thị trường. Theo đó, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm bị phạt tiền từ 150 triệu đồng đến 200 triệu đồng; cá nhân có cùng hành vi vi phạm bị phạt bằng một phần hai mức phạt tiền đối với tổ chức.

Bên cạnh hình thức phạt tiền, tổ chức, cá nhân vi phạm còn bị đình chỉ hoạt động giao dịch tài sản mã hóa từ 01 tháng đến 03 tháng và buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm. Việc áp dụng đồng thời hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả nhằm ngăn chặn việc tiếp tục khai thác, sử dụng trái phép thông tin tài khoản, đồng thời loại bỏ lợi ích vật chất phát sinh từ hành vi vi phạm.

Hành vi cản trở thanh tra, kiểm tra, yêu cầu cung cấp thông tin

 Điều 12 quy định chế tài đối với các hành vi cản trở hoạt động thanh tra, kiểm tra và việc thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin, nhằm bảo đảm cơ quan, người có thẩm quyền kịp thời tiếp cận thông tin, tài liệu và chứng cứ cần thiết để phát hiện, xác minh và xử lý vi phạm. Theo đó, mức phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng được áp dụng đối với các hành vi từ chối cung cấp hoặc cung cấp không đúng thời hạn, không đầy đủ, không chính xác thông tin, tài liệu, dữ liệu điện tử; chống đối, cản trở hoặc trốn tránh hoạt động thanh tra, kiểm tra; không thực hiện yêu cầu giải trình, không đến làm việc theo yêu cầu; trì hoãn hoặc không thi hành quyết định, yêu cầu, kiến nghị, kết luận, quyết định xử lý của đoàn thanh tra, đoàn kiểm tra, người có thẩm quyền.

Mức phạt tiền từ 70 triệu đồng đến 150 triệu đồng được áp dụng đối với các hành vi có tính chất nghiêm trọng hơn, như che giấu, sửa chữa chứng từ, tài liệu, dữ liệu điện tử; làm thay đổi tang vật vi phạm; tự ý tháo bỏ niêm phong; tẩu tán, chiếm đoạt hoặc tiêu hủy tài liệu, vật chứng liên quan đến vụ việc. Bên cạnh hình thức phạt tiền, tùy từng hành vi vi phạm, tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa còn bị đình chỉ hoạt động cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa từ 01 tháng đến 03 tháng; tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là chứng từ, tài liệu, sổ sách, dữ liệu điện tử còn có thể bị tịch thu.

Vi phạm quy định về phòng, chống rửa tiền; phòng, chống tài trợ khủng bố; phòng, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt

Điều 13 quy định cụ thể chế tài đối với các hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân tham gia thị trường tài sản mã hóa, nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về phòng, chống rửa tiền, phòng, chống tài trợ khủng bố và phòng, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Các nhóm hành vi vi phạm bao gồm: vi phạm quy định về nhận biết khách hàng; đánh giá rủi ro; xây dựng và thực hiện quy định nội bộ; áp dụng biện pháp đối với khách hàng là cá nhân nước ngoài có ảnh hưởng chính trị; phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro; quản lý rủi ro đối với sản phẩm, dịch vụ mới và việc áp dụng công nghệ đổi mới; giám sát giao dịch đặc biệt; báo cáo giao dịch có giá trị lớn, giao dịch đáng ngờ; lưu trữ, cung cấp và bảo mật thông tin; trì hoãn giao dịch, phong tỏa tài khoản, niêm phong hoặc tạm giữ tài sản; cùng các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật.

Tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, mức phạt tiền đối với tổ chức được quy định từ 80 triệu đồng đến 200 triệu đồng; cá nhân thực hiện cùng hành vi vi phạm bị phạt bằng ½ mức phạt tiền đối với tổ chức. Đối với các hành vi bị nghiêm cấm (khoản 9 Điều 13), ngoài hình thức phạt tiền tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa còn bị đình chỉ hoạt động cung cấp dịch vụ có thời hạn từ 1 tháng đến 3 tháng; tổ chức phát hành tài sản mã hóa bị đình chỉ hoạt động chào bán, phát hành từ 6 tháng đến 12 tháng; tổ chức, cá nhân thực hiện giao dịch tài sản mã hóa bị đình chỉ hoạt động giao dịch từ 6 tháng đến 12 tháng.

Thẩm quyền xử phạt, lập biên bản vi phạm hành chính, áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả

Chương III Nghị định số 284/2026/NĐ-CP quy định thẩm quyền xử phạt, thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính, nguyên tắc phân định thẩm quyền và việc thi hành hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả.

Thẩm quyền xử phạt được giao cho các chức danh thuộc cơ quan tài chính, chứng khoán, ngân hàng, các chức danh thuộc lực lượng Công an nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và phạm vi quản lý nhà nước của từng cơ quan.

Trưởng đoàn thanh tra, Trưởng đoàn kiểm tra chỉ được xử phạt đối với hành vi thuộc phạm vi, nội dung cuộc thanh tra, kiểm tra và trong thời hạn theo quy định.

Trường hợp vụ việc thuộc thẩm quyền của nhiều người thì người thụ lý đầu tiên thực hiện việc xử phạt; nếu hình thức xử phạt, mức phạt tiền hoặc biện pháp khắc phục hậu quả vượt quá thẩm quyền thì vụ việc phải được chuyển đến người có thẩm quyền xử phạt. Người có thẩm quyền xử phạt, công chức ngành tài chính, ngân hàng, người thuộc lực lượng Công an nhân dân đang thi hành công vụ và thành viên đoàn thanh tra, đoàn kiểm tra có thẩm quyền lập biên bản trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Nghị định cũng quy định cụ thể việc thi hành hình thức đình chỉ hoạt động chào bán, phát hành hoặc cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa và các biện pháp khắc phục hậu quả tại các Điều 17, 18, 19.

Tin liên quan
Tin khác