Tiêu dùng
Xuất khẩu gạo 2026: Cơ cấu thị trường dần chuyển dịch tích cực
Trúc Giang - 24/03/2026 15:46
Đến hết ngày 15/3/2026, xuất khẩu gạo đạt khoảng 1,74 triệu tấn, trị giá đạt khoảng 826,2 triệu USD. So với cùng kỳ năm 2025, tăng 2,3% về lượng, giảm 8,7% về trị giá, giá gạo xuất khẩu bình quân giảm 10,7%.

Nhu cầu nhập khẩu tăng cao

Chiều ngày 24/3, tại TP. Cần Thơ, Bộ Công thương phối hợp với UBND TP. Cần Thơ tổ chức Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu gạo trong năm 2026.

Báo cáo kết quả xuất khẩu gạo tại Hội nghị, ông Nguyễn Anh Sơn - Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) dẫn số liệu của Cục Hải quan cho biết, xuất khẩu gạo tính đến hết ngày 15/3/2026 đạt khoảng 1,74 triệu tấn, trị giá đạt khoảng 826,2 triệu USD, giá gạo xuất khẩu bình quân đạt 477,6 USD/tấn. So với cùng kỳ năm 2025, tăng 2,3% về lượng, giảm 8,7% về trị giá, giá gạo xuất khẩu bình quân giảm 10,7%.

Ông Nguyễn Anh Sơn - Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) trình bày báo cáo kết quả xuất khẩu gạo tại hội nghị

Trong 2 tháng đầu năm 2026, Philippines tiếp tục là thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam, chiếm tỷ trọng 55,86% tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước, đạt 711.264 tấn, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2025.

Đứng thứ 2 là thị trường Trung Quốc, chiếm khoảng 14% tổng xuất khẩu gạo của Việt Nam, đạt 178.165 tấn, tăng 143,7% so với cùng kỳ năm 2025.

Tiếp đó là thị trường Ghana, chiếm khoảng 6,81% tổng lượng xuất khẩu gạo của cả nước, đạt 86.674 tấn, giảm 22,7% so với cùng kỳ năm 2025.

Một số thị trường đạt sự tăng trưởng: Malaysia (tăng 155%), Úc (tăng 30,6%)... Một số thị trường sụt giảm so với cùng kỳ 2025: Hồng Công (giảm 16,1%), Singapore (giảm 31,2%), Senegal (giảm 53,11%), Bờ Biển Ngà (giảm 68,5%), Indonesia (giảm 81,7%),...

Về chủng loại gạo xuất khẩu, gạo trắng các loại vẫn tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn, đạt gần 60,4% (trong đó: gạo 5% là 55,76%, còn lại chủng loại gạo khác); tiếp đến chủng loại gạo thơm các loại chiếm 25,98% tổng lượng xuất khẩu; đứng thứ 3 là gạo nếp chiếm 4,57% tổng lượng xuất khẩu.

Đánh giá về tình hình xuất khẩu gạo, ông Nguyễn Anh Sơn cho rằng, xuất khẩu gạo ghi nhận nhu cầu nhập khẩu tăng cao (tại thời điểm 2 tháng đầu năm) từ một số thị trường truyền thống của Việt Nam như: Philippines, Trung Quốc, Malaysia...

Sự quay trở lại của thị trường Philippines sau khi nước này dỡ bỏ lệnh tạm ngừng nhập khẩu gạo, nhu cầu nhập khẩu gạo từ Trung Quốc tăng cao để phục vụ nhu cầu trong dịp Tết nguyên đán là yếu tố hỗ trợ, giúp tăng lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam cũng như giảm tải phần nào áp lực đối với giá gạo Việt Nam thời gian qua.

Xuất khẩu gạo 2 tháng đầu năm 2026 ghi nhận sự sụt giảm từ khu vực thị trường châu Phi sau khi đạt được sự tăng trưởng ấn tượng trong năm 2025 như: thị trường Bờ Biển Ngà giảm 68,5%, thị trường Ghana giảm 22,7%

Xuất khẩu các chủng loại gạo có giá trị cao, phù hợp với nhu cầu thị trường và ưu thế của Việt Nam ngày càng tăng mạnh như: gạo thơm, ST các loại, gạo trắng cao cấp.

Tuy nhiên, cơ cấu thị trường dần chuyển dịch tích cực, đa dạng hóa theo định hướng đề ra tại chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam đến năm 2030. Bên cạnh các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Philippines, cũng đã mở rộng sang các thị trường “khó tính” như Nhật Bản, châu Âu... với giá trị cao (tuy khối lượng chưa lớn). Điều này cho thấy chất lượng gạo của Việt Nam ngày càng gia tăng và đáp ứng được yêu cầu khắt khe từ các thị trường khó tính đồng thời cho thấy sự tận dụng tốt ưu đãi của các Hiệp định.

Dự báo xuất khẩu gạo năm 2026

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, diện tích gieo trồng lúa gạo năm 2026 ước đạt 7.09 triệu ha, giảm 36,1 nghìn ha; sản lượng ước đạt 43,55 triệu tấn, tăng 12.000 tấn so với năm 2025. Lượng lúa hàng hóa phục vụ xuất khẩu năm 2026 khoảng 15,46 triệu tấn tương đương 7,73 triệu tấn gạo hàng hóa. Trong đó, lượng gạo hàng hóa 6 tháng đầu năm 2026 khoảng 4,014 triệu tấn; lượng gạo hàng hóa 6 tháng cuối năm 2026 khoảng 3,716 triệu tấn.

Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu gạo năm 2026

Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), dự báo hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2026 chịu tác động bởi các yếu tố: Philippines quay trở lại nhập khẩu từ tháng 1 năm 2026 dự báo có sự thay đổi về thuế nhập khẩu gạo và có khả năng thay đổi quy định về nhập khẩu gạo nhưng là yếu tố thúc đẩy xuất khẩu gạo của Việt Nam trong năm 2026.

Sự quay trở lại nhập khẩu từ các thị trường truyền thống: Trung Quốc, Bangladesh, châu Phi...; tín hiệu thị trường từ các thoả thuận thương mại gạo giữa Việt Nam và các nước; Chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam ngày càng được nâng cao gia tăng khả năng cạnh tranh gạo Việt Nam trên thị trường thế giới.

Bên cạnh các yếu tố tích cực nêu trên, hoạt động xuất khẩu gạo sắp tới cũng gặp một số khó khăn. Cục Xuất nhập khẩu dự báo, từ tháng 3 xuất khẩu gạo Việt Nam sang các thị trường sẽ bị ảnh hưởng bởi yếu tố: Xung đột tại khu vực Trung Đông diễn ra từ ngày 28/2/2026 ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo Việt Nam sang các thị trường do chi phí logistics quốc tế (bảo hiểm tăng, thời gian vận chuyển kéo dài 10 -15 ngày), nguồn cung đầu vào bị siết chặt, tăng chi phí (phân bón, giá dầu) đồng thời chi phí vận chuyển trong nước tăng 20.000 - 30.000 đồng/tấn gạo là các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu gạo Việt Nam thời gian tới.

Cùng với đó, áp lực cạnh tranh từ các quốc gia xuất khẩu gạo lớn như: Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan cũng gây sức ép đối với gạo Việt Nam.

Ngoài ra, nguồn cung lúa gạo dồi dào do vụ Đông Xuân 2025-2026 bước vào giai đoạn thu hoạch rộ, lượng gạo hàng hóa xuất khẩu sẽ tăng.

Tác động của xung đột Trung Đông đến xuất khẩu gạo của Việt Nam

Theo ông Nguyễn Anh Sơn, xung đột Trung Đông diễn ra ngày 28/2/2026 đã tác động không chỉ đối với thương mại toàn cầu. Một số tuyến đường hải quan quan trọng đối mặt với rủi ro đứt gãy vận chuyển, giá các mặt hàng nhiên liệu thế giới và trong nước đang tăng cao, ảnh hưởng đến chuỗi chung ứng toàn cầu. Đối với hoạt động xuất khẩu gạo tác động của xung đột Trung Đông đã dẫn đến chi phí vận chuyển trong nước tăng cao do giá dầu tăng, mức tăng khoảng 20.000 - 30.000 đồng/tấn gạo.

Bên cạnh đó, tình trạng thiết hụt container rỗng phục vụ đóng hàng số lượng lớn gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu. Các hãng tàu thường xuyên điều chỉnh giá cước, thay đổi lịch trình hoặc cắt giảm một số tuyến vận chuyền đến khu vực Trung Đông, ảnh hưởng đến việc đặt chỗ tàu và container và tiến độ thực hiện một số hợp đồng xuất khẩu gạo.

Giá một số nguyên vật liệu đầu vào cũng tăng theo, điển hình như giá hạt nhựa phục vụ sản xuất bao bì tăng theo giá dầu và chi phí vận chuyển, khiến chi phí bao bì tăng khoảng 1.000 đồng/bao loại 50 kg.

Đồng thời, một số thương nhân gặp khó khăn trong việc thực hiện hợp đồng do phải điều chỉnh tiến độ giao hàng, kéo dài thời gian thanh toán hoặc phát sinh chi phí bảo quản hàng hóa. Các giao dịch mua bán với khách hàng tại khu vực Trung Đông và châu Phi cũng bị ảnh hưởng và một số khách hàng tại thị trường châu Á như Philippines cũng đang gặp khó khăn do giá cước vận tải biển và các chi phí liên quan tăng cao. Với mức giá giao dịch trước đây, nhiều doanh nghiệp có nguy cơ phát sinh lỗ. Điều này khiến doanh nghiệp tạm hoãn một số đơn hàng, chờ phản hồi từ phía khách hàng và thận trọng hơn trong việc ký kết hợp đồng mới trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.

Đặc biệt, xuất khẩu sang khu vực thị trường Trung Đông bị ảnh hưởng do gián đoạn vận chuyển, nhất là các thị trường Iraq, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE).

Tin liên quan
Tin khác