| PGS-TS. Nguyễn Anh Tuấn |
Giá xăng dầu, khí đốt trong nước đã khá ổn định sau khi tình hình Trung Đông có dấu hiệu lắng dịu, nhưng tình trạng mất điện cục bộ đã xảy ra trong khi Việt Nam có nhiều nhà máy nhiệt điện chạy dầu và khí?
Trước hết, nói về cuộc chiến ở Trung Đông, thời gian gần đây, cuộc chiến này có vẻ tạm lắng dịu, nhưng rất khó đoán định sẽ diễn biến ra sao, nên không tiên lượng được giá dầu mỏ trên thị trường thế giới sẽ thế nào.
Thực chất, xung đột ở Trung Đông đã xảy ra từ khi Nhà nước Israel được thành lập, lúc âm ỷ, khi bùng phát. Và mỗi khi xung đột ở Trung Đông bùng phát, ngay lập tức, gây tác động lên giá xăng dầu thế giới. Khác với những lần trước, xung đột lần này không chỉ quy mô lớn hơn, khốc liệt hơn, kéo dài hơn, mà rất khó đoán định cái kết.
Hòa bình ở Trung Đông có thể còn lâu mới đạt được, nhưng chắc chắn không tác động quá mạnh đến giá xăng dầu hơn nữa. Giá dầu sẽ tăng đến mức nào đó, kịch trần có thể lên đến 120 USD mỗi thùng dầu rồi đứng yên và giảm xuống chứ không thể tăng tiếp, bởi lượng cung dầu trên thế giới chỉ phụ thuộc khoảng 30% vào Trung Đông.
Ngoài việc đa dạng hóa nguồn cung, để thực hiện Net Zero, các nước đang tập trung phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo, năng lượng thay thế xăng dầu trong giao thông, nên sự phụ thuộc vào dầu lửa giảm dần.
Hiện tượng mất điện xảy ra đúng những ngày nắng nóng có lẽ không liên quan đến nguồn cung xăng dầu, khí hóa lỏng, nhưng đây là thời điểm để Việt Nam tập trung phát triển năng lượng tái tạo, sử dụng năng lượng thay thế nhiên liệu hóa thạch đối với phương tiện giao thông, đặc biệt là xe điện và xăng sinh học.
Như ông nói, rất khó dự đoán cái kết của cuộc chiến Trung Đông. Trong trường hợp cuộc chiến tái bùng phát, khủng hoảng dầu mỏ lại xảy ra, thì Việt Nam cần phải làm gì để bảo đảm an ninh năng lượng?
Khủng hoảng dầu mỏ không phải bây giờ mới xảy ra, mà đã từng xảy ra nhiều lần trong quá khứ, vào các năm 1973, 1979, 2008 và 2011 - sau sự kiện Mùa Xuân Ả Rập ở Trung Đông. Và trước cuộc khủng hoảng lần này, năm 2022, thị trường dầu mỏ thế giới cũng rơi vào khủng hoảng khi xung đột Nga - Ukraine nổ ra.
Mỗi khi biến động địa chính trị trên thế giới xảy ra đều kéo theo khủng hoảng dầu mỏ, qua đó đẩy giá xăng dầu thành phẩm trên thế giới và trong nước tăng mạnh. Như vậy, việc giá xăng dầu biến động và tăng mạnh kể từ đầu tháng 3/2026 trở lại đây không có gì là bất thường.
Giá dầu tăng hay giảm là bình thường, không có gì là đặc biệt. Và mỗi lần giá dầu tăng, các nước đều đa dạng hóa nguồn cung, sử dụng năng lượng thay thế và sử dụng công cụ tiết kiệm năng lượng hiệu quả. Lần khủng hoảng giá dầu này là cơ hội để các nước đẩy nhanh Net Zero, sử dụng năng lượng thay thế cho các phương tiện giao thông, phát triển năng lượng tái tạo.
Nếu Covid-19 là cú huých để phát triển kinh tế số, thương mại điện tử, dịch vụ trực tuyến, thì khủng hoảng dầu mỏ lần này là cú huých phát triển năng lượng tái tạo, nhất là năng lượng điện. Việt Nam đã không bỏ lỡ phát triển kinh tế số, thương mại điện tử, dịch vụ trực tuyến khi Covid-19 diễn ra, thì giờ cũng không thể bỏ lỡ cơ hội phát triển năng lượng tái tạo, sử dụng năng lượng thay thế nhiên liệu hóa thạch.
Ông nói rằng, khủng hoảng dầu mỏ lần này là cơ hội để phát triển năng lượng tái tạo, nhất là điện năng?
Xung đột ở Trung Đông ảnh hưởng đến giá xăng dầu chỉ là một phần trong bài toán an ninh năng lượng chung của nước ta tại thời điểm hiện nay. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng, theo đó, tăng trưởng kinh tế càng nhanh, nhu cầu tiêu thụ năng lượng càng lớn. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, chắc chắn kéo theo nhu cầu năng lượng tăng mạnh, đặc biệt là sản lượng điện tiêu thụ.
Đối với nguồn thủy điện, về cơ bản, Việt Nam đã khai thác tối đa. Nhiệt điện sử dụng nhiên liệu hóa thạch không thể bảo đảm được an ninh năng lượng mỗi khi khủng hoảng trên thế giới xảy ra. Vì vậy, bên cạnh điện hạt nhân, Việt Nam cần tập trung phát triển năng lượng tái tạo.
Tôi đã có nhiều nghiên cứu về ngành công nghiệp điện tái tạo và nhận ra rằng, cốt lõi của an ninh năng lượng mới nằm ở khả năng sản xuất các cấu phần thiết yếu cho hệ thống năng lượng tái tạo. Muốn làm chủ được năng lượng tái tạo trong điều kiện chưa tự chủ sản xuất, phải bảo đảm được nguồn cung các mặt hàng như pin mặt trời và tua-bin điện gió. Đồng thời, phải từng bước làm chủ được việc sản xuất nhiều thiết bị, phụ tùng, dây chuyền, máy móc (công nghiệp hỗ trợ) phục vụ ngành công nghiệp điện tái tạo. Nếu không thì khó lòng bảo đảm được an ninh năng lượng mỗi khi nguồn cung nhập khẩu bị gián đoạn, ngưng trệ, tăng giá đột ngột vì bất cứ lý do gì.
Nhưng điện tái tạo gặp trở ngại rất lớn là giá thành. Giá điện thương phẩm cao là rào cản đối với nỗ lực nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, thưa ông?
Những năm trước đây, giá thành sản xuất điện tái tạo (điện gió, điện mặt trời...) cao đúng là rào cản. Đầu tư điện gió ở nước ta có bước tăng trưởng nhanh trong những năm từ 2020 đến 2023, đến năm 2024 có phần chững lại do nhiều nguyên nhân, trong đó có giá thành. Tuy nhiên, nhờ vào tiến bộ khoa học kỹ thuật, chi phí sản xuất điện tái tạo ngày càng giảm.
Theo thống kê của Cơ quan Năng lượng tái tạo quốc tế (IRENA), chi phí sản xuất điện mặt trời năm 2024 chỉ bằng 10%; điện gió gần bờ bằng 30%; điện gió ngoài khơi bằng 38% so với năm 2010. Giá thành sản xuất điện tái tạo năm 2024 đã thấp hơn nhiệt điện. Tất nhiên, chi phí sản xuất điện tái tạo chưa tính đến đầu tư cho việc lưu trữ điện năng. Giải quyết được bài toán này thì điện gió, điện mặt trời sẽ dần thay thế các nguồn phát điện khác và là nguồn năng lượng thay thế dần cho nhiên liệu hóa thạch.
Ông có nghĩ rằng, Việt Nam có lợi thế phát triển năng lượng tái tạo?
Việt Nam có rất nhiều lợi thế, ngoài lợi thế sở hữu hàng triệu km2 mặt biển, nắng gió quanh năm, chúng ta còn có lợi thế mà ít nước có được đó là 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) và 15 đối tác chiến lược toàn diện, trong đó bao gồm cả EU. Để phát triển năng lượng tái tạo, điều kiện tự nhiên là chưa đủ, mà cần rất nhiều thiết bị, công nghệ, máy móc, dây chuyền hiện đại - những loại hàng hóa không phải nước nào cũng sản xuất được, đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam.
Trung Quốc, Ấn Độ đi đầu trong chuỗi cung ứng thiết bị cho năng lượng gió. Hàn Quốc và Nhật Bản đang dẫn đầu thế giới về công nghệ năng lượng tái tạo. EU và Vương quốc Anh, với nền công nghiệp nặng phát triển hàng trăm năm, đang sở hữu công nghệ lõi của ngành năng lượng tái tạo.
Trong bối cảnh thương mại toàn cầu gián đoạn nghiêm trọng do thuế quan, bất ổn chính trị và xung đột, dây chuyền, máy móc, thiết bị, công nghệ phục vụ phát triển năng lượng tái tạo sẽ trở thành vũ khí chiến lược của một số ít quốc gia đang sở hữu và có lợi thế.
Trong bối cảnh này, 17 FTA và 15 đối tác chiến lược toàn diện là lợi thế đặc biệt của nước ta, có thể ví như hành lang pháp lý để Việt Nam tiếp cận các loại máy móc, thiết bị, dây chuyền, công nghệ phục vụ phát triển năng lượng tái tạo. Lợi thế này còn giúp Việt Nam thu hút các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài xây dựng chuỗi sản xuất thiết bị, phụ tùng phục vụ công nghiệp năng lượng tái tạo đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Nhưng không thể mãi phụ thuộc vào các đối tác cung cấp máy móc, thiết bị, công nghệ cho ngành công nghiệp điện tái tạo, thưa ông?
Đúng vậy. Quy hoạch Phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (điều chỉnh) mới chỉ hoạch định các chỉ tiêu sản xuất điện, nguồn phát điện, cơ sở hạ tầng đấu nối, quy hoạch sử dụng đất cho dự án, kèm theo một số định hướng về vốn, thu hút đầu tư, hợp tác quốc tế…, nhưng chưa bàn cụ thể đến phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ của ngành điện.
Khác với dầu mỏ và khí đốt, chỉ cần đối tác có hàng thì có thể mua, cấu phần phục vụ cơ sở hạ tầng năng lượng tái tạo đều là các mặt hàng có hàm lượng công nghệ rất cao, tiêu chí kỹ thuật khắt khe và rất ít nhà cung ứng. Ngoài ra, còn phải tính đến nguy cơ về lâu dài, các mặt hàng thiết yếu này bị “vũ khí hóa”, “chính trị hóa” để gây áp lực trong quan hệ quốc tế.
Vì vậy, để phát triển ngành công nghiệp điện tái tạo, Việt Nam phải tập trung phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ sản xuất các cấu phần, phụ tùng, máy móc, thiết bị xây dựng, bảo dưỡng, duy tu tua-bin gió, đường dây tải điện... từ ngoài khơi vào bờ, trạm biến áp, pin mặt trời và pin lưu trữ. Nếu không, an ninh năng lượng khó bảo đảm, một khi những thiết bị này
bị thiếu.