Gánh nặng cung ứng vốn đè nặng vai ngân hàng
Ông Đoàn Việt Nam - Phó Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) - cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, quy mô đầu tư của nền kinh tế cần được mở rộng đáng kể. Do đó, việc thiết kế các cơ chế huy động và cung ứng vốn hiệu quả cho doanh nghiệp trở thành một trong những điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Theo ước tính của các chuyên gia, nhu cầu vốn cho nền kinh tế có thể lên tới hàng triệu tỉ đồng mỗi năm; riêng năm 2026 nhu cầu vốn để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đã được ước tính khoảng 4,9-5 triệu tỉ đồng (tương đương khoảng 33-33,7% GDP).
Trên thực tế, dù hiện nay nền kinh tế Việt Nam có các kênh huy động vốn (tín dụng ngân hàng, trái phiếu, cổ phiếu, vốn ngân sách,, vốn FDI...) song theo ông Nguyễn Quang Ngọc - Phó Trưởng Ban Chính sách tín dụng Agribank, tín dụng ngân hàng vẫn là kênh huy động vốn quan trọng nhất và chiếm tỉ trọng lớn nhất.
"Trong nhiều năm qua, tín dụng ngân hàng vẫn là kênh cung ứng vốn chủ đạo của nền kinh tế, chiếm tỉ trọng trên 50% tổng vốn đầu tư toàn nền kinh tế. Để đạt mục tiêu tăng trưởng 10% vào năm 2026, trong khi thị trường trái phiếu chưa thể thay thế kênh huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế, vai trò của nguồn vốn tín dụng ngân hàng vẫn đang giữ vai trò then chốt", ông Ngọc cho biết.
Tăng trưởng dựa lớn vào vốn ngân hàng, đặt lên vai các ngân hàng thương mại nhà nước - chiếm 45% thị phần toàn hệ thống- trách nhiệm nặng nề. Đặc biệt, với Agribank, việc tăng trưởng tín dụng bị hạn chế bởi các tỷ lệ an toàn vốn (do vốn điều lệ không thể tăng trưởng tương xứng với tốc độ tăng tín dụng).
Chính vì vậy, dù cam kết sẽ tiếp tục cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo động lực tăng trưởng kinh tế, song ông Ngọc cũng đề nghị Quốc hội, Chính phủ xem xét sớm phê duyệt phương án bổ sung vốn điều lệ giai đoạn 2025-2027 đối với Agribank, đồng thời có cơ chế bổ sung vốn điều lệ từ lợi nhuận làm ra hàng năm đối với các NHTM Nhà nước để tăng cường năng lực tài chính và khả năng cấp tín dụng của Agribank và các NHTM Nhà nước là kênh cung ứng vốn cho ngành kinh tế.
Trong khi đó, ông Đoàn Việt Nam cho rằng, kinh nghiệm của nhiều nền kinh tế tăng trưởng nhanh cho thấy, việc phát triển một hệ sinh thái tài chính đa tầng là yếu tố quan trọng giúp huy động hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển.
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng thương mại tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong việc tài trợ cho các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án hạ tầng và công nghiệp quy mô lớn.
Thứ hai, thị trường vốn là kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng, bao gồm phát hành trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu dự án và cổ phiếu. Việc phát triển thị trường vốn giúp giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng và tạo thêm các kênh huy động vốn cho doanh nghiệp.
Thứ ba, mô hình tài trợ dự án ngày càng được áp dụng rộng rãi đối với các dự án hạ tầng lớn, trong đó nguồn vốn được thu xếp dựa trên dòng tiền của dự án thay vì bảng cân đối của doanh nghiệp.
Thứ tư, nguồn vốn quốc tế từ các tổ chức tài chính phát triển, các ngân hàng nước ngoài và các quỹ đầu tư hạ tầng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn vốn dài hạn với chi phí hợp lý.
Việc kết hợp linh hoạt các kênh huy động vốn này sẽ tạo nền tảng tài chính vững chắc cho các doanh nghiệp triển khai các dự án đầu tư quy mô lớn.
Căng thẳng Trung Đông gây áp lực lớn với tỷ giá, lạm phát; dư địa chính sách tiền tệ còn rất hạn hẹp
Ông Nguyễn Lê Nam – Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, tăng trưởng hai con số giai đoạn tới đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực của nền kinh tế nhằm đảm bảo tăng trưởng nhanh và bền vững. Trong đó, nguồn vốn tín dụng ngân hàng tiếp tục là nguồn lực quan trọng.
| Ông Nguyễn Lê Nam – Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam |
Cộng thêm tình hình biến động khó lường của thế giới đã đặt ra thách thức lớn điều hành chính sách tiền tệ: một mặt phải kiểm soát lạm phát, nhưng đồng thời phải hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm thiểu tác động tiêu cực từ các cú sốc để ổn định kinh tế vĩ mô.
Trong bối cảnh căng thẳng leo thang tại Trung Đông, giá năng lượng tăng vọt, các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới, trong đó có Fed, đã trở nên thận trọng hơn rất nhiều trong việc cắt giảm lãi suất. Ngân hàng Trung ương Úc thậm chí tính đến khả năng tăng lãi suất có thể sớm trong tháng 3/2026 để kiểm soát lạm phát.
Ông Nam cho hay, bối cảnh thế giới đang tạo sức ép lớn lên tỉ giá và thị trường tiền tệ trong nước. Những tác động trên được dự báo sẽ tiếp tục gây ra nhiều rủi ro tiềm ẩn đối với tăng trưởng và lạm phát thế giới, qua đó tác động trực diện và tiêu cực đến Việt Nam.
Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay áp lực lạm phát đang gia tăng khi giá dầu thế giới tăng cao kéo theo giá xăng trong nước cũng tăng.
“Trong bối cảnh đó, việc kiên định mục tiêu kiểm soát lạm phát là hết sức cần thiết để góp phần neo giữ kỳ vọng lạm phát cũng như củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài vào môi trường vĩ mô ổn định, tạo tiền đề cho việc sản xuất kinh doanh phục vụ tăng trưởng kinh tế”, ông Nam cho biết.
Theo ông Nam, kinh nghiệm thực tế từ thế giới và Việt Nam đã cho thấy rằng tăng trưởng kinh tế cao chỉ thực sự có ý nghĩa và bền vững trong một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định và lạm phát được kiểm soát tốt. Đó sẽ là nền tảng vững chắc cho việc tăng trưởng một cách bền vững.
Theo Vụ Chính sách tiền tệ, thời gian tới, NHNN sẽ điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.
Bên cạnh đó, phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa, thị trường tiền tệ tín dụng và thị trường vốn trong việc đáp ứng vốn cho phát triển kinh tế.
NHNN cho rằng, những năm qua, thị trường vốn Việt Nam dù đã có những bước tiến đáng kể nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vốn trung, dài hạn của nền kinh tế. Gánh nặng cung ứng vốn vẫn được đặt lên vai của nguồn vốn tín dụng ngân hàng.
Tăng trưởng tín dụng cao trong khi tăng trưởng huy động vốn không theo kịp cũng đã dẫn tới những áp lực nhất định tới thanh khoản và lãi suất. Bên cạnh đó, tỉ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam hiện đã đạt trên 144%, là mức cao nhất trong số các nước có thu nhập trung bình thấp.
Nói cách khác, ông Nam cho rằng, dư địa điều hành chính sách tiền tệ nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế cao là tương đối hạn hẹp. Trong bối cảnh này, sự phối hợp chính sách tài khóa, tiền tệ đồng bộ là rất quan trọng. Trong đó, chính sách tài khóa cần được mở rộng thực chất, có trọng tâm, trọng điểm, tăng cường giải ngân vốn đầu tư công, vừa có tác động trực tiếp lẫn tác động lan tỏa, dẫn dắt các động lực tăng trưởng kinh tế khác.
Chính sách tiền tệ tiếp tục được chủ động, linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường trong nước và quốc tế trong đó ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, sẵn sàng các công cụ, biện pháp để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong điều kiện phù hợp.
Bên cạnh đó, cũng cần tận dụng hiệu quả những cơ hội thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài thông qua sự thành lập Trung tâm tài chính quốc tế và cơ hội nâng hạng của thị trường chứng khoán Việt Nam.