Khoa học và Công nghệ
Chiến lược giữ chân người giỏi cho các ngành công nghệ chiến lược
D.Ngân - 01/06/2026 15:48
Những chính sách học bổng chưa từng có dành cho nhóm ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược đang mở ra cơ hội lớn cho người học, đồng thời được kỳ vọng tạo cú hích mạnh mẽ trong cuộc đua phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ chuyển đổi số, công nghiệp hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Kỳ tuyển sinh đại học năm 2026 đánh dấu bước chuyển đáng chú ý trong chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 179/2026/NĐ-CP quy định chính sách học bổng dành cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.

Theo Nghị định 179, sinh viên thuộc nhóm ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược có thể nhận hỗ trợ từ 3,7 đến 5 triệu đồng mỗi tháng tùy chương trình đào tạo.

Theo ông Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo), mục tiêu của chính sách không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ chi phí học tập và sinh hoạt cho người học mà còn tạo động lực đủ mạnh để thu hút, giữ chân học sinh giỏi theo đuổi các lĩnh vực có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh quốc gia trong tương lai.

Điểm cốt lõi của chính sách là định hướng rõ ràng nguồn nhân lực cho những lĩnh vực nền tảng và công nghệ chiến lược thay vì đầu tư dàn trải. Đây cũng là những lĩnh vực Việt Nam cần tăng tốc phát triển trong giai đoạn tới nhằm phục vụ chuyển đổi số, công nghiệp hóa và xây dựng nền kinh tế tri thức.

Trong bối cảnh kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 đang đến gần, ông Nguyễn Tiến Thảo khuyến khích học sinh mạnh dạn lựa chọn các ngành STEM nếu có thế mạnh ở nhóm môn khoa học tự nhiên. Theo ông, học bổng không đơn thuần là hỗ trợ tài chính mà còn là tấm vé bước vào những lĩnh vực được dự báo sẽ giữ vai trò then chốt đối với sự phát triển đất nước trong 10 đến 20 năm tới.

"Hãy lấy đó làm động lực lớn nhất để chọn ngành học ngay từ bây giờ. Lựa chọn đúng ngành học ở thời điểm này chính là lựa chọn vị trí của mình trong tương lai", ông Nguyễn Tiến Thảo nhấn mạnh.

Tại Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH), theo đại diện nhà trường, sinh viên theo học các ngành công nghệ vũ trụ, vi mạch bán dẫn, Toán học, Hóa học và khoa học cơ bản có thể nhận học bổng tới 100% học phí. Ngoài ra còn có các mức hỗ trợ 75%, 50% và 25% tùy theo kết quả học tập.

Không chỉ ở bậc đại học, chính sách hỗ trợ còn được mở rộng tới bậc sau đại học. Sinh viên có thể nhận khoảng 4 triệu đồng mỗi tháng, học viên cao học khoảng 5 triệu đồng mỗi tháng và nghiên cứu sinh tiến sĩ khoảng 7 triệu đồng mỗi tháng. Đây đều là những lĩnh vực Việt Nam đang có nhu cầu nhân lực rất lớn như điện hạt nhân, vi mạch bán dẫn hay đường sắt tốc độ cao.

Theo Nghị định 179, sinh viên thuộc nhóm ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược có thể nhận hỗ trợ từ 3,7 đến 5 triệu đồng mỗi tháng tùy chương trình đào tạo. Học viên cao học được hỗ trợ từ 5,5 đến 7,4 triệu đồng mỗi tháng, trong khi nghiên cứu sinh tiến sỹ có thể nhận tối đa 8,4 triệu đồng mỗi tháng.

Tính theo năm học, tổng mức hỗ trợ dao động từ 37 đến 84 triệu đồng. Đây được đánh giá là mức học bổng có giá trị lớn trong điều kiện hiện nay, đủ để nhiều người học trang trải học phí và phần lớn chi phí sinh hoạt.

Tuy nhiên, chính sách không áp dụng đại trà mà được thiết kế theo cơ chế lựa chọn chặt chẽ nhằm bảo đảm hiệu quả đầu tư. Đối với thí sinh xét tuyển bằng điểm thi tốt nghiệp THPT, điều kiện là điểm trung bình cộng ba môn theo tổ hợp xét tuyển đạt từ 22,5 điểm trở lên, không tính điểm ưu tiên, đồng thời thuộc nhóm 30% thí sinh có điểm trúng tuyển cao nhất của ngành hoặc chương trình đào tạo.

Trong quá trình học tập, sinh viên phải duy trì kết quả học tập theo quy định, bảo đảm số tín chỉ tích lũy và không vi phạm kỷ luật mới tiếp tục được nhận học bổng. Theo các chuyên gia giáo dục, cơ chế này tạo động lực kép, vừa khuyến khích học sinh nỗ lực ngay từ bậc phổ thông, vừa thúc đẩy sinh viên duy trì chất lượng học tập trong suốt quá trình đào tạo.

Bên cạnh chính sách học bổng, việc thu hút người học vào các ngành công nghệ chiến lược còn phụ thuộc rất lớn vào vai trò của các cơ sở giáo dục đại học.

GS-TSKH.Nguyễn Đình Đức, Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, những quốc gia thành công đều không chỉ tiếp cận công nghệ mà còn chủ động kiến tạo và làm chủ công nghệ chiến lược.

Trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển đổi mô hình tăng trưởng, việc xây dựng và triển khai các chương trình công nghệ chiến lược mang ý nghĩa sống còn không chỉ về kinh tế mà còn liên quan đến an ninh, tự chủ và phát triển bền vững. Theo ông, với sứ mệnh nghiên cứu, sáng tạo tri thức và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đại học là thiết chế duy nhất có thể đảm đương vai trò này một cách bền vững.

Những lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến, công nghệ sinh học, bán dẫn, cơ học tính toán hay hàng không vũ trụ đều bắt nguồn từ các nghiên cứu cơ bản trong môi trường đại học trước khi được chuyển hóa thành sản phẩm và ứng dụng công nghiệp.

Trong bối cảnh mới, đào tạo đại học không thể chỉ dừng ở việc truyền thụ kiến thức mà phải hướng tới phát triển năng lực nghiên cứu, sáng tạo, tư duy hệ thống và khả năng giải quyết các bài toán thực tiễn. Điều này đòi hỏi chương trình đào tạo phải được thiết kế trên nền tảng khoa học cơ bản hiện đại, đồng thời gắn chặt với những bài toán lớn của quốc gia và các dự án công nghệ chiến lược.

GS-TSKH.Nguyễn Đình Đức cũng cho rằng, cần tiếp tục đổi mới mô hình quản trị đại học, tăng cường gắn kết với doanh nghiệp, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong trường đại học, phát triển các trung tâm nghiên cứu, vườn ươm công nghệ và doanh nghiệp khởi nguồn từ đại học.

Mô hình hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và trường đại học cần được triển khai hiệu quả hơn để tạo ra hệ sinh thái phát triển công nghệ bền vững.

Theo ông, phát triển công nghệ chiến lược không chỉ là nhiệm vụ riêng của ngành khoa học công nghệ mà là chiến lược tổng thể của quốc gia. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo chính sách, doanh nghiệp giữ vai trò triển khai và thương mại hóa, còn các trường đại học là nền tảng hình thành tri thức, công nghệ lõi và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

"Nếu không có đại học mạnh, không có các nhà khoa học giỏi và đội ngũ tổng công trình sư, công trình sư trình độ cao thì không thể có công nghệ lõi. Không có công nghệ lõi sẽ không có sản phẩm chiến lược. Và nếu không có sản phẩm chiến lược, quốc gia sẽ khó đạt được mục tiêu tự chủ, giàu mạnh và phát triển bền vững", GS-TSKH.Nguyễn Đình Đức nhấn mạnh.

Với trường Đại học Xây dựng Hà Nội, theo PGS-TS.Nguyễn Hoàng Giang, Phó Hiệu trưởng Nhà trường, việc có nhiều ưu đãi trong đào tạo sinh viên khối ngành kỹ thuật là một "đòn bẩy" giúp nhà trường nâng chất lượng đào tạo.  

Theo ông, trí tuệ nhân tạo cần được đưa thẳng vào giảng dạy, nghiên cứu và xử lý các bài toán kỹ thuật thực tiễn, để công nghệ không chỉ tồn tại trong lý thuyết mà thực sự trở thành động lực thay đổi tư duy đào tạo, năng lực kỹ sư và phương thức vận hành của ngành xây dựng trong thời đại mới.

Cụ thể, Nhà trường đang xây dựng hệ sinh thái dữ liệu dùng chung cho sinh viên và giảng viên, thúc đẩy mô hình nghiên cứu liên ngành, ứng dụng AI vào mô phỏng công trình, tối ưu thiết kế, dự báo rủi ro và quản lý vận hành hạ tầng.

"Nghiên cứu khoa học chỉ thực sự có giá trị nếu được doanh nghiệp tiếp nhận, được triển khai ngoài thực tiễn và tạo ra thay đổi cho xã hội. Vì vậy mô hình “Ba nhà” mà Nhà trường đang theo đuổi gồm Nhà nước, Nhà trường và Doanh nghiệp đang dần phát huy lợi thế", PGS-TS.Nguyễn Hoàng Giang nói thêm.

Cũng theo lãnh đạo trường Đại học Xây dựng Hà Nội, thông qua mạng lưới cựu sinh viên rộng khắp tại các địa phương và doanh nghiệp xây dựng lớn, nhiều nghiên cứu của trường đã được ứng dụng vào các dự án thực tế. Nhà trường đồng thời thúc đẩy thành lập các trung tâm đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ nhằm rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng.

Tin liên quan
Tin khác