Đời sống
Chính sách thu hút nhân tài trong nước, quốc tế và bài toán đầu tư dài hạn
D.Ngân - 14/01/2026 11:25
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu về nhân lực chất lượng cao ngày càng gay gắt, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng Dự thảo Đề án về cơ chế, chính sách đột phá nhằm thu hút, trọng dụng chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài.

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, mục tiêu cốt lõi của Đề án là tháo gỡ những “nút thắt” kéo dài trong việc thu hút và giữ chân chuyên gia quốc tế, từ cơ chế tiền lương, thuế, nhà ở đến môi trường nghiên cứu và tự chủ học thuật.

Thực tiễn tại một số cơ sở giáo dục đại học tự chủ cho thấy, khi được trao quyền quyết định về tài chính và nhân sự, khả năng thu hút và giữ chân chuyên gia tăng lên rõ rệt.

Thay vì cách tiếp cận dàn trải, dự thảo lựa chọn mô hình đầu tư có trọng tâm, tập trung vào các lĩnh vực khoa học - công nghệ mũi nhọn, gắn với nhu cầu phát triển kinh tế tri thức và công nghiệp công nghệ cao.

Điểm đáng chú ý là chính sách được thiết kế theo ba nhóm chuyên gia, với mức đãi ngộ và quyền hạn tương xứng với năng lực và đóng góp kỳ vọng.

Trong đó, nhóm chuyên gia hàng đầu được đề xuất mức lương tối thiểu 400 triệu đồng/tháng, miễn thuế thu nhập cá nhân trong ba năm đầu, cùng gói hỗ trợ ban đầu lên tới 5 tỷ đồng để xây dựng phòng thí nghiệm, hình thành nhóm nghiên cứu và triển khai các nhiệm vụ chiến lược.

Thống kê cho thấy, giai đoạn 2021 - 2025, số lượng giảng viên, nhà khoa học và chuyên gia nước ngoài làm việc tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam gia tăng cả về quy mô và chất lượng, với sự hiện diện ngày càng đa dạng từ Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản, Úc đến các quốc gia châu Âu và châu Á khác.

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nền kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo, việc ban hành và triển khai hiệu quả Đề án thu hút chuyên gia quốc tế không chỉ mang ý nghĩa cải cách giáo dục, mà còn là quyết sách đầu tư cho tương lai, góp phần nâng cao vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị tri thức toàn cầu.

Dự thảo Đề án gồm ba phần: Sự cần thiết; quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp; và tổ chức thực hiện. Trọng tâm là nhóm cơ chế, chính sách thu hút nhân tài, gồm chính sách ưu đãi chung và chính sách theo nhóm đối tượng.

Với chính sách chung, chuyên gia và nhà khoa học là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài khi được tuyển dụng sẽ được hưởng các ưu đãi theo quy định hiện hành; đồng thời được công nhận tương đương chức danh giáo sư, phó giáo sư nếu đã giữ chức danh này tại cơ sở đào tạo, nghiên cứu ở nước ngoài theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Bên cạnh đó, Dự thảo Đề án xây dựng chính sách riêng cho ba nhóm chuyên gia, thể hiện mức độ ưu tiên nhằm thu hút nhân lực xuất sắc trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ mũi nhọn.

Đối với nhóm 1, chuyên gia được hưởng lương tối thiểu 400 triệu đồng/tháng, miễn thuế thu nhập cá nhân trong ba năm đầu và hỗ trợ ban đầu tối đa 5 tỷ đồng để thiết lập phòng thí nghiệm, mua thiết bị và thuê trợ lý.

Nhóm này được giao vị trí then chốt như giám đốc chương trình, trưởng nhóm nghiên cứu quốc gia; được ưu tiên đề tài cấp Bộ, cấp quốc gia; được tuyển dụng nghiên cứu viên; được chi trả toàn bộ chi phí công tác trong và ngoài nước; và được cấp nhà ở hoặc hỗ trợ thuê nhà tối đa 50 triệu đồng/tháng.

Nhóm 2 được hưởng lương tối thiểu 200 triệu đồng/tháng, có phụ cấp nghiên cứu ưu đãi; hỗ trợ ban đầu đến 2 tỷ đồng; được giao các chức danh quản lý chuyên môn và ít nhất hai đề tài cấp Bộ hoặc cấp quốc gia.

Nhóm này được thanh toán chi phí công tác theo quy định, hỗ trợ thuê nhà 20–30 triệu đồng/tháng trong ba năm đầu và hưởng các ưu đãi khác theo thỏa thuận với cơ sở sử dụng.

Với nhóm 3, mức lương tối thiểu là 100 triệu đồng/tháng; hỗ trợ ban đầu đến 500 triệu đồng; được giao chức danh quản lý chuyên môn; được chi trả chi phí công tác trong và ngoài nước và hỗ trợ tham dự hai hội nghị quốc tế mỗi năm. Nhóm này được giao ít nhất một đề tài cấp Bộ/năm và hỗ trợ thuê nhà 10-19 triệu đồng/tháng trong ba năm đầu.

Cùng với các ưu đãi mạnh, Dự thảo Đề án đề xuất nhóm nhiệm vụ và giải pháp tạo nền tảng thể chế để triển khai hiệu quả, như rà soát pháp luật về tuyển dụng, bổ nhiệm chuyên gia nước ngoài; nghiên cứu cấp thị thực tích hợp thay thế giấy phép lao động; hoàn thiện cơ chế tài chính, tự chủ cho các cơ sở giáo dục; và nghiên cứu thành lập Quỹ Thu hút và Phát triển giảng viên, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài.

Dự thảo Đề án cũng chú trọng xây dựng mạng lưới kết nối tri thức toàn cầu, gồm cơ sở dữ liệu quốc gia về chuyên gia quốc tế, mạng lưới trí thức Việt Nam toàn cầu, các chương trình trao đổi, hội thảo, cố vấn; hoạt động tìm kiếm và kết nối nhân tài; cùng hệ sinh thái hỗ trợ chuyên gia làm việc tại Việt Nam.

Công tác truyền thông được xác định là trọng tâm, với định hướng xây dựng chiến lược “Work in Vietnam”, phát huy vai trò các tổ chức khoa học quốc tế và mạng lưới kiều bào nhằm quảng bá Việt Nam như điểm đến học thuật và nghiên cứu uy tín trong khu vực.

Với Dự thảo này, đại diện Trường Đại học Bách khoa TP.HCM đề xuất cải thiện thủ tục cấp phép lao động, thị thực và nghiên cứu triển khai visa nhân tài 3 - 5 năm để tạo điều kiện làm việc ổn định cho chuyên gia.

Nhà trường cũng kiến nghị trao thêm quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm trong việc mời và quản lý giảng viên nước ngoài, quy định rõ sở hữu trí tuệ; đồng thời cần có biểu thuế thu nhập cá nhân ưu đãi, cơ chế tài chính linh hoạt và hệ sinh thái hỗ trợ chuyên gia (dịch vụ hành chính, y tế, giáo dục cho con, bộ phận “một cửa”).

Trường cũng đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung về chuyên gia quốc tế và phát huy vai trò của cơ quan ngoại giao, hội trí thức trong kết nối nguồn lực.

TS.Lê Trường Tùng, Chủ tịch Hội đồng trường Đại học FPT cho rằng, tiêu chí phân nhóm chuyên gia còn rộng, cần làm rõ khái niệm “chuyên gia đầu ngành” và nâng tiêu chuẩn tuyển chọn.

Ông đề nghị cơ chế đãi ngộ linh hoạt hơn, không cứng vào lương tối thiểu; đồng thời quy định tỷ lệ giảng viên nước ngoài gắn với lộ trình đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai và bổ sung cơ chế “chuyên gia ngoại giao” theo hợp tác song phương.

Ở góc nhìn tổng thể, ông Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, đánh giá nhiều giải pháp của dự thảo Đề án đã mang tính đột phá nhưng cần phân nhóm đối tượng rõ ràng hơn.

Với nhóm chuyên gia xuất sắc, có khả năng “thay đổi cuộc chơi”, ông đề xuất cơ chế vượt trội gắn với các nhiệm vụ như AI, bán dẫn; với đội ngũ chuyên gia quốc tế nói chung, cần tiêu chí minh bạch, môi trường học thuật hấp dẫn và cơ chế tiếp nhận thông thoáng.

Ông cũng đề nghị thành lập Quỹ cạnh tranh tài năng để các trường có thêm nguồn lực thu hút nhân lực chất lượng cao trong và ngoài nước.

Từ phía giáo dục nghề nghiệp, các ý kiến nhấn mạnh yêu cầu bám sát thực tế đào tạo và nhu cầu doanh nghiệp. Ông Vũ Quang Khuê, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Bắc Ninh đề nghị, bổ sung yêu cầu về kinh nghiệm thực tiễn tại doanh nghiệp, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao; đồng thời lưu ý mức hỗ trợ nhà ở, sinh hoạt phí cần phù hợp vì nhiều chuyên gia lớn tuổi đi cùng gia đình.

Ông Phạm Xuân Khánh, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội cho rằng, mức chi trong Đề án còn thấp so với chính sách thu hút nhân tài tại một số địa phương, trong khi năng lực tài chính của nhiều trường nghề hạn chế.

Vị này đề xuất bổ sung cơ chế hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước, đặc biệt đối với các cơ sở trọng điểm và các ngành mới như công nghệ bán dẫn.

Theo các chuyên gia, đây là cách tiếp cận phù hợp với thông lệ quốc tế, coi chi cho nhân tài không phải là “chi phí” mà là khoản đầu tư có khả năng sinh lợi cao, thông qua nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và lan tỏa tri thức sang khu vực doanh nghiệp.

Thực tiễn tại một số cơ sở giáo dục đại học tự chủ cho thấy, khi được trao quyền quyết định về tài chính và nhân sự, khả năng thu hút và giữ chân chuyên gia tăng lên rõ rệt.

Các ý kiến cũng cho rằng, để chính sách phát huy hiệu quả, cần nhìn thu hút chuyên gia quốc tế như một bài toán đầu tư tổng thể, không chỉ giới hạn trong phạm vi giáo dục. Nhà ở, y tế, giáo dục cho con cái, dịch vụ hành chính và môi trường sống tiêu chuẩn quốc tế là những yếu tố tác động trực tiếp đến quyết định gắn bó lâu dài của chuyên gia.

Đề xuất giao các địa phương trọng điểm như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng xây dựng các khu vực sinh sống và làm việc dành cho chuyên gia quốc tế được đánh giá là hướng đi phù hợp, góp phần hình thành các “cụm tri thức”, nơi giáo dục - nghiên cứu - doanh nghiệp công nghệ cao cùng phát triển.

Tin liên quan
Tin khác