Theo ông Nguyễn Văn Phụng, nguyên Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn thuộc Tổng cục Thuế, nay là Cục Thuế (Bộ tài chính), trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế 2 con số, chính sách thuế cần chuyển từ chống suy giảm ngắn hạn sang phát triển năng lực sản xuất trong dài hạn.
| Ông Nguyễn Văn Phụng, nguyên Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn thuộc Tổng cục Thuế, nay là Cục Thuế (Bộ Tài chính) |
Chiến lược Cải cách hệ thống thuế đến năm 2030 đã đi được nửa chặng đường. Ông đánh giá kết quả đạt được ra sao?
Chiến lược Cải cách hệ thống thuế đến năm 2030 đã đề ra mục tiêu bảo đảm duy trì tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước (NSNN) từ thuế, phí ở mức ổn định, hợp lý và phù hợp với Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2025 và 2026 - 2030. Trong giai đoạn đầu, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp, người dân khắc phục khó khăn, phục hồi sản xuất, kinh doanh do ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19.
Theo số liệu của Bộ Tài chính, so với dự toán, thu NSNN năm 2021 vượt 18,47%, năm 2022 vượt gần 29%, năm 2023 vượt 9,26%, năm 2024 vượt 20,15%; năm 2025 vượt 34,74%. Trong 8 tháng đầu năm 2026, thu NSNN đạt trên 2 triệu tỷ đồng, tương đương 80% dự toán cả năm, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2025.
Nhờ chính sách thuế được sửa đổi, bổ sung kịp thời, phù hợp với bối cảnh mới, hoạt động sản xuất, kinh doanh được hỗ trợ, nên các số liệu thống kê kinh tế vĩ mô 8 tháng đầu năm 2026 ghi nhận đà bứt phá mạnh mẽ. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt được trong 6 tháng đầu năm (tăng 8,18%), nhiều chuyên gia kinh tế dự báo trong quý III này, khả năng tăng trưởng GDP đạt 9,5% rất cao.
Có thể hiểu, chính sách thuế đã hỗ trợ kịp thời người nộp thuế vượt qua khó khăn, phục hồi trở lại sau đại dịch Covid-19?
Nhìn lại nửa chặng đường thực hiện Chiến lược Cải cách hệ thống thuế đến năm 2030, có thể thấy nhiều chính sách được sửa đổi, bổ sung, đặc biệt là việc miễn, giảm, gia hạn hàng loạt sắc thuế và tiền thuê đất thời gian vừa qua không chỉ giúp người dân và doanh nghiệp vượt qua khó khăn, phục hồi hoạt động sau Covid-19, mà còn góp phần nuôi dưỡng hàng trăm doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh và đóng góp nhiều hơn vào NSNN.
Theo Danh sách 200 doanh nghiệp nộp NSNN lớn nhất mới công bố, số lượng doanh nghiệp nộp NSNN (năm 2025) hàng chục, thậm chí cả trăm ngàn tỷ đồng ngày một dài ra. Nhờ chính sách thuế phù hợp, doanh nghiệp lớn đã tạo thêm nhiều ngành nghề mới như sản xuất công nghiệp, chế biến tài nguyên sau khai thác, dịch vụ logistics, dịch vụ kinh doanh bất động sản, hạ tầng, qua đó tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho xã hội, đóng góp vào tăng trưởng GDP, tăng thu NSNN.
So với mục tiêu đặt ra tại Chiến lược Cải cách hệ thống thuế đến năm 2030 thì sao, thưa ông?
Chiến lược Cải cách hệ thống thuế đến năm 2030 đặt mục tiêu đến năm 2025, tỷ lệ huy động vào NSNN bình quân không thấp hơn 16% GDP, trong đó, tỷ lệ huy động từ thuế, phí khoảng 13-14% GDP. Theo số liệu của Bộ Tài chính, so với GDP, tổng số thu NSNN năm 2021 đạt 18,75%; năm 2022 đạt 18,92%; năm 2023 đạt 17,16%; năm 2024 đạt 17,75% và năm 2025 cũng là năm đạt tỷ lệ cao nhất, với 20,63%.
Việc thực hiện Chiến lược lần này rơi đúng vào thời kỳ khó khăn nhất, nên giai đoạn đầu phải tập trung hỗ trợ doanh nghiệp, người dân khắc phục khó khăn, phục hồi sản xuất, kinh doanh do ảnh hưởng tiêu cực của Covid-19. Song những số liệu trên đã cho thấy, NSNN không chỉ thu vượt dự toán, đặc biệt năm 2025, thu vượt dự toán 34,74% và tăng 29,67% so với số thực thu năm 2024. Số thu năm nào cũng cao hơn 16% GDP như mục tiêu đã đặt ra, đặc biệt là năm 2025, thu NSNN tương đương 20,63% GDP. Có thể khẳng định, trong giai đoạn I (2021 - 2025), chúng ta đã hoàn thành vượt chỉ tiêu đề ra trong Chiến lược.
Theo ông, trong bối cảnh mới, chính sách thuế cần những thay đổi gì để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng 2 con số?
Kết quả thu NSNN thuận lợi trong những năm vừa qua thực ra vẫn chỉ là ngắn hạn, không đồng nghĩa toàn bộ phần tăng thu có tính ổn định, lâu dài và trong tương lai NSNN không phải lúc nào cũng dư dả, có đủ nguồn lực để tiếp tục thực hiện các chính sách miễn, giảm thuế như đã và đang thực hiện.
Trong năm 2026, ngoài việc kéo dài chính sách gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất, chính sách giảm 2% thuế giá trị gia tăng tiếp tục được thực hiện đến hết ngày 31/12/2026. Nhiều chuyên gia kinh tế, cộng đồng doanh nghiệp kiến nghị nên kéo dài các chính sách hỗ trợ về thuế thêm một thời gian nữa để “khoan thư sức dân”.
Tuy nhiên, tôi cho rằng, đối với chính sách giảm thuế giá trị gia tăng, cần xây dựng cơ chế đánh giá định kỳ theo nhóm hàng hóa, dịch vụ và nhóm đối tượng thụ hưởng. Các chỉ tiêu tối thiểu nên bao gồm mức độ chuyển phần thuế được giảm vào giá bán; biến động lượng tiêu dùng; doanh thu, việc làm và dòng tiền của doanh nghiệp; phân phối lợi ích giữa người tiêu dùng và người bán; cùng số thu ngân sách giảm tương ứng. Chỉ khi xác định được phần lợi ích thực sự chuyển đến người tiêu dùng và hoạt động kinh tế phát sinh thêm, thì mới có thể đánh giá đầy đủ hiệu quả của chính sách để đưa ra quyết định có tiếp tục kéo dài thời gian giảm thuế giá trị gia tăng nữa hay không.
Đối với chính sách gia hạn nghĩa vụ thuế, cần tập trung vào các ngành, doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, kinh doanh thực chất, nhưng đang gặp khó khăn thanh khoản tạm thời; hạn chế để chính sách trở thành biện pháp trì hoãn nghĩa vụ đối với những chủ thể có rủi ro mất khả năng thanh toán hoặc tuân thủ thấp. Sau năm 2026, việc tiếp tục, thu hẹp hoặc chấm dứt các biện pháp hỗ trợ cần căn cứ vào tiêu chí đã công bố trước, thay vì kéo dài đồng loạt.
Chính sách thuế hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn này cần đồng thời đáp ứng ba yêu cầu: tạo động lực cho đầu tư, đổi mới sáng tạo và mở rộng sản xuất; bảo đảm công bằng, minh bạch và trung lập tương đối giữa các chủ thể kinh tế và duy trì nguồn thu đủ vững chắc để Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ phát triển, an sinh xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô.
Doanh nghiệp là xương sống, là chủ thể của nền kinh tế, thưa ông, thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành đã thực sự là động lực giúp doanh nghiệp lớn mạnh?
Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025 và Luật số 09/2026/QH16 rất tiến bộ khi ngoài thuế suất phổ thông 20% còn áp mức thuế suất 15% đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu không quá 3 tỷ đồng/năm và mức 17% đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu năm trên 3 tỷ đồng đến không quá 50 tỷ đồng/năm; đồng thời bổ sung quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp, tổ chức có tổng doanh thu năm từ mức do Chính phủ quy định trở xuống.
Trên cơ sở đó, Nghị định 141/2026/NĐ-CP quy định ngưỡng tổng doanh thu năm được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp không quá 1 tỷ đồng và căn cứ các chỉ số kinh tế vĩ mô, khả năng cân đối ngân sách, Chính phủ quy định mức tổng doanh thu năm phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
Hệ thống thuế suất và ngưỡng miễn thuế như hiện nay tạo điều kiện cho doanh nghiệp quy mô nhỏ tích lũy vốn, nhưng đồng thời làm phát sinh yêu cầu kiểm soát hành vi chia tách hoạt động, chuyển doanh thu hoặc duy trì quy mô dưới ngưỡng để tiếp tục hưởng chính sách miễn thuế hoặc được hưởng thuế suất ưu đãi 15% hoặc 17%. Do đó, để bảo đảm nguồn thu NSNN tăng ổn định, lâu dài và chống thất thu thuế, trong giai đoạn II thực hiện Chiến lược Cải cách hệ thống thuế cần thiết kế thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng tạo “hành lang” cho doanh nghiệp lớn lên, thay vì chỉ xác định các ngưỡng thuế suất tách biệt.
Theo đó, khi doanh nghiệp vượt ngưỡng doanh thu, cơ chế chuyển tiếp có thể được nghiên cứu theo hướng giảm dần lợi ích thuế trong một khoảng thời gian hợp lý, thay vì làm nghĩa vụ thuế thay đổi đột ngột. Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế hợp nhất doanh thu của các doanh nghiệp có quan hệ liên kết hoặc cùng chịu sự kiểm soát của một chủ sở hữu trong những trường hợp có dấu hiệu chia tách nhân tạo; tăng đối chiếu hóa đơn, tài khoản thanh toán, lao động và địa điểm kinh doanh để xác định đúng quy mô hoạt động thực tế nhằm chống lẩn tránh thuế.