Thời sự Đầu tư
Chuyển mạnh từ từng địa phương phải “xin” cơ chế đặc thù sang phân quyền mạnh, minh bạch
Nguyễn Lê - 11/08/2026 09:01
Luật Phát triển đô thị không chỉ luật hóa một số cơ chế, chính sách đặc thù đã được thực tiễn kiểm nghiệm, mà quan trọng hơn là hình thành một khuôn khổ thể chế mới cho quản trị và phát triển đô thị.
Đại biểu Trịnh Xuân An (Đồng Nai) phát biểu tại hội trường.

Sáng 11/8, tiếp tục Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Phát triển đô thị.

Trước đó, thảo luận ở tổ, về cơ bản ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội đều tán thành sự cần thiết ban hành Luật Phát triển đô thị, cho rằng việc ban hành Luật là yêu cầu cấp bách nhằm kịp thời thể chế hóa Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP.HCM trong kỷ nguyên mới, các nghị quyết của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV và các chủ trương lớn của Đảng về phát triển đô thị.

Điều hành thảo luận tại hội trường, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định nói, đây là đạo luật mới có nhiều nội dung quan trọng nên quốc hội bố trí thảo luận trong 1 buổi (thông thường các luật khác được dành ½ buổi).

Với số lượng 50 đại biểu đăng ký, chủ tọa phiên họp đề nghị các vị đại biểu phát biểu tối đa 5 phút (thay vì 7 phút như quy định).

Hướng tới một khung thể chế chung về phát triển và quản trị đô thị có phân tầng

Tham gia thảo luận, đại biểu Trịnh Xuân An (Đồng Nai), Ủy viên chuyên trách Ủy ban Quốc phòng - An ninh và đối ngoại bày tỏ tán thành sự cần thiết ban hành Luật Phát triển đô thị.

“Ý nghĩa của dự án Luật không chỉ là luật hóa một số cơ chế, chính sách đặc thù đã được thực tiễn kiểm nghiệm, mà quan trọng hơn là hình thành một khuôn khổ thể chế mới cho quản trị và phát triển đô thị, chuyển mạnh từ quản lý sang kiến tạo phát triển, từ việc từng địa phương phải “xin” cơ chế đặc thù sang phân quyền mạnh, ổn định, minh bạch và có trách nhiệm”, ông An nêu rõ.

Góp ý về phạm vi và triết lý của Luật, ông An nêu, điều 1 dự thảo quy định phạm vi khá rộng: khoản 2 áp dụng đối với TP.HCM và thành phố là đô thị đặc biệt; khoản 3 mở cơ chế cho thành phố chưa phải đô thị đặc biệt; khoản 4 đối với khu kinh tế đặc biệt và địa phương có khu kinh tế đặc biệt; khoản 5 giao Chính phủ quy định phạm vi áp dụng cụ thể đối với các trường hợp tại khoản 3, khoản 4.

Đồng tình với cách tiếp cận mở này, nhưng vị đại biểu Đồng Nai đề nghị làm rõ hơn triết lý của đạo luật. Nếu đã là Luật Phát triển đô thị thì không nên chỉ dừng ở luật hóa cơ chế đặc thù cho TP.HCM rồi cho các địa phương khác áp dụng từng phần. Cần hướng tới một khung thể chế chung về phát triển và quản trị đô thị có phân tầng, phù hợp với quy mô, vị trí, vai trò và năng lực quản trị của từng đô thị.

Theo ông An, những cơ chế đã được kiểm nghiệm ở TP.HCM, Hà Nội và có tính phổ quát thì nên từng bước trở thành chính sách chung cho những đô thị đủ điều kiện, thay vì mỗi địa phương tiếp tục phải xin một nghị quyết hoặc cơ chế riêng. Vì vậy, đại biểu đề nghị Điều 1 quy định rõ hơn các tầng áp dụng, điều kiện, nguyên tắc và giới hạn, tránh tình trạng Luật đã mở nhưng địa phương vẫn phải chờ Chính phủ quyết định mình được áp dụng cơ chế nào.

Cần cơ chế đảm bảo cạnh tranh thực chất

Nêu ý kiến, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Hài Phòng), ủy viên chuyên trách Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường đề cập quy định về tháo gỡ các dự án chậm triển khai.

Cho rằng đây là nguồn lực lớn đang bị đóng băng, đất đai chưa được sử dụng hiệu quả, việc đưa quy định vào dự thảo là hướng tiếp cận cần thiết, song ông Sơn đề nghị cần bổ sung hai khóa kiểm soát. Một là, khi cho phép tiếp tục dự án phải rà soát, xác định đầy đủ nghĩa vụ tài chính về đất đai và nghĩa vụ phát sinh do việc điều chỉnh, tiếp tục dự án; bảo đảm Nhà nước không thất thu nhưng cũng không xác lập lại nghĩa vụ đã được thực hiện hợp pháp. Không thể để cơ chế giải phóng nguồn lực trở thành cơ chế hợp thức hóa lợi ích phát sinh từ việc dự án bị kéo dài.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Hải Phòng) tham gia thảo luận. 

Hai là, với dự án có giá trị đất đai, tài sản công hoặc nghĩa vụ tài chính lớn, phức tạp, cần có thẩm định liên ngành trước khi quyết định. Đồng thời, ông Sơn đề nghị cân nhắc thời hạn đến ngày 31/12/036. Một cơ chế đặc biệt xử lý tồn đọng mà kéo dài tới 10 năm sẽ làm giảm tính cấp bách và có thể tiếp tục tạo tâm lý chờ đợi, vị đại biểu Hải Phòng nêu quan điểm.

Về quy hoạch tổng thể Thành phố, Tờ trình của Chính phủ nêu Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố báo cáo Thủ tướng trước khi phê duyệt, nhưng khoản 3 Điều 10 dự thảo chỉ quy định phê duyệt sau khi Hội đồng nhân dân thông qua.

Ông Sơn nói, chỉ quy định nghĩa vụ báo cáo là chưa đủ, vì báo cáo không đồng nghĩa với cơ chế xử lý khi có ý kiến khác nhau. Vì vậy, đại biểu đề nghị Luật quy định rõ việc lấy ý kiến và xử lý ý kiến của Chính phủ hoặc Thủ tướng đối với nội dung liên quan quy hoạch ngành quốc gia, kết cấu hạ tầng quốc gia và liên vùng trước khi Thành phố phê duyệt.

Về lựa chọn nhà đầu tư chiến lược tại Điều 35, ông Sơn nhận xét thiết kế tại Dự thảo chưa bảo đảm cạnh tranh thực chất. Dự án trong danh mục có quy mô từ 800 tỷ đến 75.000 tỷ đồng, cần thời gian nghiên cứu khả thi và thu xếp vốn; nhưng thời hạn để nhà đầu tư thứ hai nộp hồ sơ chỉ là 7 ngày.

Về hình thức là cạnh tranh, nhưng trên thực tế rất khó để nhiều nhà đầu tư có đủ thời gian chuẩn bị. Thêm nữa, tiêu chí chấm điểm lại được ban hành sau khi đã tiếp nhận hồ sơ, ông Sơn nhìn nhận.

Theo đại biểu thì cần công khai danh mục dự án và tiêu chí chấm điểm trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia trước khi tiếp nhận hồ sơ, đồng thời kéo dài đáng kể thời hạn tiếp nhận. Với dự án quy mô lớn có thể nghiên cứu tối thiểu 45 ngày để bảo đảm cạnh tranh thực chất.

Điều cần kiểm soát không phải là nhà đầu tư có được gọi là chiến lược hay không, mà là quá trình lựa chọn có thực sự cạnh tranh, minh bạch hay không - ông Sơn nhấn mạnh.

Tin liên quan
Tin khác