- SLP Việt Nam và J&T Express Việt Nam ký kết hợp tác phát triển trung tâm logistics tự động hóa quy mô lớn
- Cuộc đua sở hữu những mắt xích logistics đằng sau các nhà máy tỷ đô
- Viettel Campuchia bước vào lĩnh vực logistics, kỳ vọng tạo động lực mới cho kinh tế Campuchia
- Cần Thơ muốn mở rộng hợp tác với doanh nghiệp Singapore về logistics, cảng biển, chế biển nông sản
| Đắk Lắk tìm kiếm giải pháp tháo gỡ các điểm nghẽn thông qua Hội thảo “Phát triển khu/cụm công nghiệp gắn với công nghiệp chế biến sâu và logistics liên vùng”. Ảnh: Linh Đan |
Sáng 26/6, Sở Công thương tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Ban Quản lý Khu kinh tế Phú Yên, Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh và các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức Hội thảo “Phát triển khu/cụm công nghiệp gắn với công nghiệp chế biến sâu và logistics liên vùng”.
Hội thảo là diễn đàn quan trọng để các cơ quan quản lý nhà nước, chuyên gia, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp đầu tư hạ tầng khu/cụm công nghiệp, doanh nghiệp logistics và nhà đầu tư cùng trao đổi, nhận diện rõ hơn thực trạng, tiềm năng, điểm nghẽn và giải pháp phát triển công nghiệp tỉnh Đắk Lắk trong không gian phát triển mới sau sắp xếp đơn vị hành chính.
Bà Nguyễn Vũ Tố Quyên, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Quản lý Khu kinh tế Phú Yên cho biết, Đắk Lắk sau sắp xếp là địa phương có không gian phát triển rất đặc thù, kết hợp giữa lợi thế cao nguyên, vùng nguyên liệu nông - lâm sản quy mô lớn với lợi thế duyên hải, cảng biển, khu kinh tế, hành lang kết nối Đông - Tây giữa Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ. Đây là điều kiện rất quan trọng để Tỉnh tái cấu trúc mô hình phát triển công nghiệp theo hướng không chỉ “sản xuất tại chỗ”, mà phải hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ vùng nguyên liệu - chế biến sâu - lưu thông - logistics - xuất khẩu.
Trong giai đoạn tới, phát triển công nghiệp Đắk Lắk không chỉ dừng lại ở việc mở rộng diện tích khu, cụm công nghiệp hoặc thu hút thêm dự án sản xuất đơn lẻ. Yêu cầu đặt ra là phải xây dựng được một hệ sinh thái công nghiệp có hạ tầng đồng bộ, có khả năng liên kết vùng, có trung tâm logistics, có dịch vụ hỗ trợ sản xuất, có nguồn nhân lực chất lượng cao, có năng lực đổi mới công nghệ và đáp ứng ngày càng tốt hơn các tiêu chuẩn về môi trường, phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số.
Hội thảo tập trung vào 3 trục nội dung lớn: phát triển khu, cụm công nghiệp; thúc đẩy công nghiệp chế biến sâu; và hình thành hệ thống logistics liên vùng, lấy kết nối Tây Nguyên - Duyên hải Nam Trung Bộ làm định hướng xuyên suốt.
Thứ nhất, về phát triển khu công nghiệp. Theo định hướng quy hoạch tỉnh Đắk Lắk tới kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua tại Nghị quyết số 12/NQ-HĐND ngày 26/5/2026, hệ thống khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk gồm: 33 khu công nghiệp với tổng diện tích khoảng 10.885,19 ha, đặc biệt định hướng phát triển 3 Khu kinh tế: Khu kinh tế Nam Phú Yên định hướng nghiên cứu mở rộng lên 50.000ha; bổ sung mới Khu kinh tế chuyên biệt phía Tây với quy mô hơn 50.000ha và Khu kinh tế cửa khẩu Đắk Ruê, quy mô 39.000ha; tạo động lực mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo sự cộng hưởng, hỗ trợ lẫn nhau được thiên nhiên ưu đãi cho sản xuất nông nghiệp trồng các loại cây công nghiệp chủ lực có giá trị kinh tế cao, như cà-phê, cao-su, hồ tiêu, sầu riêng, cây ăn trái, rau củ quả, dược liệu, chăn nuôi, nguồn lợi thủy sản dồi dào, nổi tiếng; có nguồn lực dồi dào tạo điều kiện cho phát triển chuỗi đô thị, trung tâm thương mại tự do, du lịch nghỉ dưỡng, sân golf, dịch vụ và công nghiệp, logistics...; thúc đẩy phát triển kinh tế công nghiệp gắn với kinh tế du lịch dịch vụ rừng - biển…”.
Một số khu công nghiệp đang hoạt động đã đạt tỷ lệ lấp đầy cao, cho thấy nhu cầu đầu tư, nhu cầu mặt bằng sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh là có thực và còn rất lớn. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, hệ thống khu công nghiệp vẫn còn nhiều vấn đề cần được phân tích sâu hơn, như: hạ tầng một số khu công nghiệp chưa đồng bộ; suất đầu tư hạ tầng còn thấp so với yêu cầu phát triển khu công nghiệp hiện đại; tỷ lệ đóng góp ngân sách trên một đơn vị diện tích đất công nghiệp còn chưa tương xứng; một số khu công nghiệp mới dừng ở khâu quy hoạch, kêu gọi đầu tư; việc kết nối giữa khu công nghiệp với cảng biển, sân bay, quốc lộ, cao tốc, trung tâm logistics và vùng nguyên liệu chưa thật sự hình thành thành mạng lưới hoàn chỉnh.
Do đó, nhiệm vụ đặt ra là phải chuyển mạnh từ tư duy “quy hoạch quỹ đất công nghiệp” sang tư duy “phát triển không gian công nghiệp tích hợp”. Khu công nghiệp trong giai đoạn mới phải là nơi hội tụ của hạ tầng sản xuất, hạ tầng giao thông, hạ tầng năng lượng, hạ tầng số, hạ tầng môi trường và dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp. Đối với các khu công nghiệp ven biển, cần phát huy lợi thế cảng biển, logistics, công nghiệp năng lượng, công nghiệp chế biến, công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp quy mô lớn. Đối với các khu công nghiệp phía Tây, cần gắn chặt hơn với chế biến nông sản, lâm sản, vật liệu xây dựng, cơ khí phục vụ nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ và các ngành có giá trị gia tăng cao.
| Ông Nguyễn Thành Sơn, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Cảng Cát Lái chia sẻ kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp phát triển logistics với tỉnh Đắk Lắk. Ảnh: Linh Đan |
Thứ hai, về phát triển cụm công nghiệp. Cụm công nghiệp là không gian sản xuất quan trọng đối với công nghiệp địa phương, doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ sở sản xuất nông thôn, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề và các ngành chế biến gắn với vùng nguyên liệu. Theo rà soát, toàn tỉnh hiện có 66 cụm công nghiệp với tổng diện tích quy hoạch khoảng 3.598 ha; trong đó có 21 cụm công nghiệp đã được thành lập còn hiệu lực, tổng diện tích khoảng 937 ha, thu hút 221 dự án đăng ký đầu tư, tỷ lệ lấp đầy bình quân khoảng 60,4%.
Kết quả này cho thấy các cụm công nghiệp đã góp phần tạo mặt bằng sản xuất, di dời cơ sở sản xuất ra khỏi khu dân cư, thu hút doanh nghiệp đầu tư, giải quyết việc làm và thúc đẩy phát triển công nghiệp ở địa phương. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy nhiều cụm công nghiệp còn khó khăn về hạ tầng kỹ thuật, nhất là giao thông nội bộ, cấp điện, cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải tập trung, phòng cháy chữa cháy, cây xanh, dịch vụ công cộng và cơ chế quản lý vận hành. Một số cụm công nghiệp do cấp xã quản lý còn thiếu nguồn lực đầu tư, thiếu mô hình quản lý chuyên nghiệp; một số dự án thứ cấp chậm triển khai, ngừng hoạt động hoặc sử dụng đất chưa hiệu quả; một số cụm công nghiệp cần được rà soát lại về pháp lý, quy hoạch và phương án thu hút đầu tư.
Mục tiêu đến năm 2030 của tỉnh là hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật các cụm công nghiệp theo hướng đồng bộ, hiện đại, bảo đảm 100% cụm công nghiệp đang hoạt động được đầu tư hoàn thiện hạ tầng và vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn. Đây là mục tiêu rất quan trọng, nhưng cũng là nhiệm vụ nhiều thách thức, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của các sở, ngành, địa phương, chủ đầu tư hạ tầng và cộng đồng doanh nghiệp.
Vấn đề cần thảo luận hôm nay là: làm thế nào để cụm công nghiệp không chỉ là nơi bố trí mặt bằng sản xuất, mà trở thành “điểm tựa” cho công nghiệp chế biến tại chỗ, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho sản phẩm OCOP, sản phẩm công nghiệp nông thôn, công nghiệp hỗ trợ và chuỗi cung ứng địa phương. Muốn vậy, tỉnh cần hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ hạ tầng cụm công nghiệp; đổi mới mô hình quản lý cụm công nghiệp; lựa chọn nhà đầu tư hạ tầng có năng lực; ưu tiên xử lý môi trường; đồng thời phân loại cụm công nghiệp theo chức năng, lợi thế và khả năng kết nối vùng nguyên liệu.
Thứ ba, về công nghiệp chế biến sâu. Đắk Lắk có lợi thế rất lớn về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, dược liệu, khoáng sản, năng lượng tái tạo và tài nguyên biển. Tuy nhiên, lợi thế tài nguyên chỉ thực sự trở thành lợi thế phát triển khi được tổ chức lại thành chuỗi giá trị có công nghệ, có thương hiệu, có thị trường và có logistics. Nếu chỉ dừng ở sản xuất thô, sơ chế hoặc xuất bán nguyên liệu, giá trị gia tăng giữ lại trên địa bàn tỉnh sẽ còn thấp; năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn hạn chế; thu ngân sách, thu nhập người lao động và sức lan tỏa của công nghiệp đối với nông nghiệp, dịch vụ chưa tương xứng với tiềm năng.
Do đó, phát triển công nghiệp chế biến sâu phải được xem là hướng đi trọng tâm để nâng cao chất lượng tăng trưởng công nghiệp của tỉnh. Trọng tâm là chế biến sâu cà phê, ca cao, sầu riêng, hồ tiêu, trái cây, cao su, gỗ rừng trồng, sản phẩm chăn nuôi, thủy sản, dược liệu, đường và các sản phẩm sau đường; đồng thời phát triển bao bì, cơ khí, kho lạnh, bảo quản sau thu hoạch, năng lượng sinh khối, logistics lạnh và dịch vụ kiểm định, truy xuất nguồn gốc.
Để làm được điều đó, khu công nghiệp và cụm công nghiệp phải được quy hoạch, đầu tư và vận hành theo yêu cầu của chuỗi chế biến sâu. Cần có quỹ đất phù hợp cho nhà máy chế biến quy mô lớn; có cụm công nghiệp gần vùng nguyên liệu cho sơ chế, bảo quản, phân loại, đóng gói; có khu công nghiệp gắn với logistics, cảng biển và xuất khẩu; có hạ tầng điện, nước, xử lý nước thải, kho lạnh, kho ngoại quan, trung tâm phân phối; có hệ sinh thái doanh nghiệp phụ trợ; có liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp chế biến với hợp tác xã, nông dân, vùng nguyên liệu và doanh nghiệp logistics.
Thứ tư, về logistics liên vùng. Trong mô hình phát triển mới, logistics không chỉ là dịch vụ vận tải, mà là cầu nối kết nối các chuỗi ngành hàng. Đối với Đắk Lắk, logistics có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì tỉnh vừa có vùng nguyên liệu lớn ở phía Tây, vừa có không gian cảng biển, khu kinh tế và công nghiệp ven biển ở phía Đông. Nếu tổ chức tốt logistics liên vùng, Đắk Lắk có thể rút ngắn khoảng cách từ vùng nguyên liệu Tây Nguyên ra biển, giảm chi phí vận chuyển, nâng cao năng lực xuất khẩu, tăng sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư chế biến sâu và nhà đầu tư hạ tầng công nghiệp.
Trục kết nối Đông - Tây giữa Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ cần được nhìn nhận như một hành lang kinh tế công nghiệp - logistics. Trên hành lang đó, các khu, cụm công nghiệp phía Tây đóng vai trò gắn với vùng nguyên liệu, sơ chế, chế biến nông - lâm sản; các khu công nghiệp, khu kinh tế phía Đông đóng vai trò cửa ngõ logistics, chế biến sâu, xuất khẩu, công nghiệp quy mô lớn và dịch vụ hậu cần cảng biển. Khi hai không gian này được kết nối hiệu quả, Đắk Lắk có thể hình thành chuỗi giá trị liên hoàn: nguyên liệu - chế biến - lưu kho - vận chuyển - cảng biển - xuất khẩu.
Tuy nhiên, logistics của tỉnh hiện nay vẫn còn nhiều điểm nghẽn: hạ tầng kết nối chưa đồng bộ; thiếu trung tâm logistics có quy mô và chức năng phù hợp; thiếu kho lạnh, kho ngoại quan, trung tâm phân phối; chi phí vận chuyển còn cao; liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp xuất nhập khẩu và doanh nghiệp logistics chưa chặt chẽ; dữ liệu thị trường, dữ liệu hàng hóa, dữ liệu vận tải chưa được chia sẻ hiệu quả. Vì vậy, cần có các giải pháp đồng bộ về quy hoạch trung tâm logistics, kết nối hạ tầng giao thông, thu hút doanh nghiệp logistics chiến lược, phát triển dịch vụ logistics lạnh, chuyển đổi số trong quản lý chuỗi cung ứng và hình thành các tuyến vận tải ổn định từ vùng nguyên liệu đến cảng biển.
Thứ năm, về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực. Bà Quyên cho biết, Đắk Lắk xác định phát triển khu, cụm công nghiệp, chế biến sâu và logistics trong giai đoạn tới không thể tách rời khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là nền tảng để nâng cao năng suất lao động, kiểm soát chất lượng sản phẩm, truy xuất nguồn gốc, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, tự động hóa sản xuất, tối ưu hóa vận tải và quản trị chuỗi cung ứng. Đối với các khu, cụm công nghiệp, cần từng bước hình thành mô hình quản lý thông minh, ứng dụng số trong theo dõi hạ tầng, môi trường, sử dụng đất, tiến độ dự án, tiêu thụ điện nước, xử lý nước thải và dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp chế biến, cần hỗ trợ đổi mới công nghệ, nâng cấp dây chuyền sản xuất, áp dụng tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn xuất khẩu. Đối với logistics, cần phát triển nền tảng kết nối hàng hóa, kho bãi, phương tiện, cảng biển, đơn hàng và thông tin thị trường. Cùng với đó, nguồn nhân lực là điều kiện quyết định. Tỉnh cần gắn phát triển khu, cụm công nghiệp với đào tạo nghề, đào tạo kỹ thuật viên, công nhân lành nghề, nhân lực logistics, nhân lực quản lý sản xuất, nhân lực chuyển đổi số và nhân lực vận hành các hệ thống xử lý môi trường. Việc liên kết giữa cơ sở đào tạo, doanh nghiệp, hiệp hội và cơ quan quản lý nhà nước cần được tổ chức thực chất hơn, theo nhu cầu cụ thể của từng ngành, từng khu công nghiệp, cụm công nghiệp và từng chuỗi sản phẩm.
Tại Hội thảo, các chuyên gia, nhà quản lý và doanh nghiệp tập trung trao đổi, thảo luận và làm rõ một số nhóm vấn đề trọng tâm, như đánh giá đúng thực trạng, tiềm năng và dư địa phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp của tỉnh Đắk Lắk trong không gian phát triển mới; xác định rõ khu vực nào cần ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến, cần ưu tiên logistics, khu vực nào cần phát triển công nghiệp hỗ trợ, cần tổ chức lại mô hình cụm công nghiệp.
Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất công nghiệp, nâng cao suất đầu tư, tỷ lệ lấp đầy, tỷ lệ đóng góp ngân sách, số lao động và giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích đất khu, cụm công nghiệp; hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải, hạ tầng thiếu đồng bộ hoặc dự án thứ cấp chậm triển khai.
Thảo luận mô hình phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp theo hướng xanh, hiện đại, đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng môi trường và dịch vụ hỗ trợ sản xuất; trong đó ưu tiên xử lý nước thải tập trung, chuyển đổi năng lượng, tiết kiệm tài nguyên, kinh tế tuần hoàn và quản trị thông minh.
Xác định các ngành công nghiệp chế biến sâu có khả năng tạo đột phá cho tỉnh; đề xuất cơ chế thu hút doanh nghiệp đầu tàu, doanh nghiệp chế biến quy mô lớn, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp có năng lực xuất khẩu và doanh nghiệp liên kết vùng nguyên liệu.
Đề xuất định hướng phát triển logistics liên vùng, nhất là trung tâm logistics, kho lạnh, kho ngoại quan, dịch vụ hậu cần cảng biển, hạ tầng thương mại và các tuyến kết nối vùng nguyên liệu Tây Nguyên với các khu công nghiệp, khu kinh tế, cảng biển phía Đông.
Kiến nghị các cơ chế, chính sách cần Trung ương và tỉnh quan tâm hỗ trợ, gồm chính sách đất đai, đầu tư hạ tầng, môi trường, tín dụng, khuyến công, xúc tiến đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, chuyển đổi số và liên kết vùng.
Đề xuất phương thức phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương, ban quản lý khu công nghiệp, ban quản lý khu kinh tế, hiệp hội, doanh nghiệp và nhà đầu tư để các kết quả của Hội thảo không chỉ dừng lại ở trao đổi, mà được cụ thể hóa thành chương trình hành động, danh mục dự án, cơ chế phối hợp và nhiệm vụ triển khai sau Hội thảo.
Ông Phan Ngọc Vĩnh, Chủ tịch Công ty TNHH MTV Cảng Vũng Rô, Uỷ viên BCT Hiệp hội Logistics và Cảng biển tỉnh Đắk Lắk cho rằng, đây là thời điểm đặc biệt quan trọng đối với tỉnh nhà khi Quy hoạch tỉnh giai đoạn mới đã được triển khai đồng bộ, mở ra tầm nhìn định vị Đắk Lắk trở thành trung tâm liên kết kinh tế xanh và dịch vụ logistics trọng điểm của cả vùng Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ. Cùng với việc tuyến cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột (quy mô đầu tư gần 22.000 tỷ đồng) đang trong giai đoạn tăng tốc nước rút bứt phá, hành lang kinh tế Đông - Tây chiến lược đang từng bước được hiện thực hóa, kết nối trực tiếp thủ phủ nông sản đại ngàn với mạng lưới cảng biển quốc tế và thị trường toàn cầu.
Theo ông Vĩnh, nếu hệ thống hạ tầng giao thông được ví như những tuyến đường huyết mạch, thì logistics chính là dòng máu lưu thông trong cơ thể kinh tế. Giao thông là điều kiện cần, nhưng logistics mới là điều kiện đủ để hình thành năng lực cạnh tranh và tạo sức hấp dẫn thực chất đối với nhà đầu tư. Một địa phương có đường cao tốc rộng mở nhưng chi phí logistics đắt đỏ, chuỗi cung ứng đứt gãy, thiếu hụt kho bãi hiện đại thì vẫn khó có thể giữ chân dòng vốn bền vững. Ngược lại, một hệ sinh thái logistics đồng bộ, kết nối hiệu quả các ngành kinh tế sẽ giúp tối ưu hóa giá trị sản xuất và gia tăng sức cạnh tranh cho toàn bộ nền kinh tế địa phương.