| Doanh nghiệp sản xuất thực phẩm sẽ phải đăng ký công bố hợp quy cho bao bì, đồng thời đăng ký công bố cho chính sản phẩm chứa đựng trong bao bì đó |
Kiến nghị vừa được Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) gửi Thủ tướng Chính phủ được tổng hợp từ ý kiến của hơn 200 đại biểu tham dự trực tiếp và hơn 1.000 đại biểu tham gia trực tuyến tại hội thảo về tháo gỡ vướng mắc trong thực hiện chính sách an toàn thực phẩm, cùng với phản ánh của nhiều hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp sản xuất, chế biến thực phẩm.
Kiến nghị này cũng được đồng thời gửi tới Phó Thủ tướng Lê Thành Long, Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ trưởng Bộ Công thương, với nhiều giải trình chi tiết.
Nhiều quy định khó thực thi
Theo cộng đồng doanh nghiệp, Nghị định 46/2026/NĐ-CP đưa ra nhiều thay đổi căn bản trong cơ chế quản lý an toàn thực phẩm, đặc biệt là đối với thủ tục công bố sản phẩm và kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu. Tuy nhiên, quá trình triển khai cho thấy nhiều quy định chưa có điều kiện thực thi trên thực tế.
Một trong những vướng mắc lớn là quy định yêu cầu hầu hết các sản phẩm thực phẩm, bao gồm cả nguyên liệu, phụ gia, bao bì và dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm, phải thực hiện thủ tục công bố trước khi lưu thông hoặc sử dụng trong sản xuất. Quy định này đã loại bỏ nhiều trường hợp được miễn thủ tục theo Nghị định 15/2018/NĐ-CP, khiến doanh nghiệp phải thực hiện thêm nhiều thủ tục đối với các nguyên liệu chỉ phục vụ sản xuất nội bộ.
Theo phản ánh của doanh nghiệp sản xuất thực phẩm, quy định này buộc doanh nghiệp phải thực hiện đồng thời hai thủ tục công bố đối với cùng một sản phẩm: vừa đăng ký công bố hợp quy cho bao bì, vừa đăng ký công bố cho chính sản phẩm chứa đựng trong bao bì đó.
“Đây là quy định chồng chéo, không cần thiết, bởi doanh nghiệp sản xuất đã chịu toàn bộ trách nhiệm pháp lý đối với thành phẩm cuối cùng đưa ra thị trường”, VCCI bày tỏ quan điểm của doanh nghiệp trong kiến nghị tới Chính phủ.
Đáng nói là một số yêu cầu về hồ sơ hiện chưa có điều kiện thực hiện. Chẳng hạn, quy định yêu cầu phải có chứng nhận hợp quy từ tổ chức chứng nhận được công nhận, nhưng hiện chưa có tổ chức nào được công nhận để thực hiện chứng nhận cho nhóm sản phẩm thực phẩm.
Hay 90% sản phẩm thực phẩm nhập khẩu đang lưu hành trên thị trường sẽ không thể đáp ứng yêu cầu hồ sơ đăng ký bản công bố hợp quy yêu cầu phải có giấy ủy quyền trực tiếp từ nhà sản xuất nước ngoài. Thực tế, phần lớn hoạt động nhập khẩu thực phẩm và nguyên liệu tại Việt Nam được thực hiện qua hệ thống phân phối toàn cầu hoặc qua các đơn vị thương mại trung gian, không mua trực tiếp từ nhà sản xuất. Các nhà sản xuất nước ngoài, đặc biệt tại Nhật Bản, châu Âu và Hoa Kỳ, không có thông lệ cấp giấy ủy quyền theo hình thức yêu cầu của Nghị định 46 và không chấp nhận chịu trách nhiệm pháp lý theo pháp luật Việt Nam.
Những thực tế này khiến doanh nghiệp không thể hoàn thiện hồ sơ dù có nhu cầu tuân thủ quy định.
Thời gian, chi phí tuân thủ tăng mạnh
| Thời gian kiểm tra thông thường là 10 ngày làm việc và kiểm tra chặt là 12 ngày làm việc, chưa bao gồm thời gian kiểm nghiệm, dẫn đến tổng thời gian thông quan thực tế có thể kéo dài |
Một nội dung khác gây lo ngại là cơ chế kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu. Theo quy định mới, toàn bộ nguyên liệu thực phẩm nhập khẩu phục vụ sản xuất, kể cả những loại không tiêu thụ trực tiếp trên thị trường, đều phải thực hiện kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm.
Trong khi đó, thẩm quyền kiểm tra lại được phân cấp về cho chính quyền cấp tỉnh. Theo phản ánh từ doanh nghiệp, nhiều địa phương chưa chuẩn bị đủ về nhân lực, quy trình và hệ thống tiếp nhận hồ sơ, dẫn đến tình trạng cơ quan chuyên môn ở một số địa phương tạm ngừng tiếp nhận hồ sơ khi chưa có hướng dẫn thực hiện, khiến hàng hóa ùn tắc kéo dài..
Bên cạnh đó, quy trình kiểm tra mới gồm nhiều bước, từ quyết định phương thức kiểm tra, lấy mẫu, kiểm nghiệm đến xác nhận kết quả. Thời gian kiểm tra thông thường là 10 ngày làm việc và kiểm tra chặt là 12 ngày làm việc, chưa bao gồm thời gian kiểm nghiệm, dẫn đến tổng thời gian thông quan thực tế có thể kéo dài. Điều này phát sinh chi phí lưu kho, lưu bãi rất lớn và gây hư hỏng đặc biệt đối với nguyên liệu tươi sống.
Nhiều khoảng trống pháp lý
Doanh nghiệp cũng phản ánh một số khái niệm kỹ thuật trong chính sách mới chưa được định nghĩa rõ ràng, như khái niệm “chất có hoạt tính sinh học” hay khái niệm “công bố khuyến cáo về sức khỏe”. Việc thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng có thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau giữa các địa phương, tạo rủi ro lớn cho doanh nghiệp
Ngoài ra, nhiều quy định mới yêu cầu kết quả kiểm nghiệm từ các phòng kiểm nghiệm được chỉ định, nhưng hệ thống kiểm nghiệm trong nước hiện chưa đáp ứng đủ năng lực và phương pháp kiểm nghiệm theo yêu cầu mới. Thời gian trả kết quả kiểm nghiệm tại một số đơn vị có thể kéo dài từ 40 đến 45 ngày, chưa kể tình trạng từ chối tiếp nhận mẫu do e ngại trách nhiệm pháp lý. Nếu triển khai đầy đủ Nghị định 46 từ ngày 15/4/2026, khối lượng kiểm nghiệm sẽ tăng đột biến, trong khi năng lực hệ thống hiện tại không thể đáp ứng, buộc nhiều doanh nghiệp phải gửi mẫu kiểm nghiệm ra nước ngoài với chi phí rất lớn...
Áp dụng Nghị định 15/2018/NĐ-CP chờ Luật An toàn thực phẩm sửa đổi
Trong bối cảnh đó, cộng đồng doanh nghiệp cho rằng việc tạm ngưng hiệu lực một số quy định của Nghị định 46/2026/NĐ-CP theo Nghị quyết 09/2026/NQ-CP là quyết định kịp thời, giúp tháo gỡ tình trạng ùn tắc tại cửa khẩu và cảng biển trong thời gian qua.
Tuy nhiên, thời hạn tạm ngưng hiện chỉ kéo dài đến ngày 15/4/2026. Nếu các vướng mắc cốt lõi chưa được xử lý trước thời điểm này, nguy cơ ách tắc thủ tục và gián đoạn chuỗi cung ứng có thể tái diễn.
Vì vậy, nhiều hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp kiến nghị Chính phủ xem xét kéo dài thời gian tạm ngưng hiệu lực của Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP cho đến khi Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) được Quốc hội thông qua và có hiệu lực, đồng thời tiếp tục áp dụng Nghị định 15/2018/NĐ-CP trong giai đoạn chuyển tiếp.
Ngoài những lo ngại trong thực thi, đề xuất này còn vì Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 được ban hành và có hiệu lực ngay trong bối cảnh Luật An toàn thực phẩm đang trong quá trình sửa đổi. Việc áp dụng các quy định này trong thời gian ngắn, sau đó lại phải thay thế bằng văn bản mới hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm sửa đổi, sẽ tạo ra bất ổn pháp lý, chi phí tuân thủ lớn và xáo trộn môi trường sản xuất, kinh doanh
Theo các doanh nghiệp, phương án này sẽ giúp bảo đảm sự ổn định pháp lý, tránh phát sinh chi phí tuân thủ lớn trong thời gian ngắn và tạo điều kiện để xây dựng hệ thống quy định mới đồng bộ, khả thi hơn.
+ Khôi phục cơ chế miễn thủ tục công bố và kiểm tra nhà nước đối với nguyên liệu, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến, bao bì và dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm chỉ dùng để sản xuất nội bộ, không tiêu thụ tại thị trường trong nước;
+ Mở rộng điều khoản chuyển tiếp bao gồm cả các sản phẩm, nguyên liệu trước đây được miễn thủ tục tự công bố theo Nghị định 15/2018/NĐ-CP; Cho phép tiếp tục thực hiện và sửa đổi, bổ sung hồ sơ tự công bố theo quy trình của Nghị định 15/2018/NĐ-CP trong thời gian chuyển tiếp;
+ Công nhận giá trị tương đương của các chứng nhận quốc tế còn hiệu lực như FSSC 22000, HACCP, ISO 22000, BRC, IFS thay thế cho Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm; cho phép doanh nghiệp có chứng nhận quốc tế tiếp tục sử dụng cho đến khi hoàn tất thủ tục xin cấp giấy chứng nhận mới;
+ Cho phép áp dụng cơ chế thông quan trước – kiểm tra sau đối với các lô hàng nhập khẩu của doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt; cho phép đưa hàng về kho doanh nghiệp hoặc kho ngoại quan để bảo quản trong thời gian chờ kết quả kiểm tra; quy định tổng thời gian kiểm tra bao gồm cả thời gian kiểm nghiệm để bảo đảm tính minh bạch và khả năng dự liệu cho doanh nghiệp...
Đặc biệt, VCCI kiến nghị Chính phủ chỉ đạo đánh giá toàn diện năng lực hệ thống kiểm nghiệm thực phẩm quốc gia trước khi triển khai đầy đủ các quy định của 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP