| Bà Phí Hương Nga, Trưởng ban Thống kê công nghiệp và xây dựng (Cục Thống kê) |
Gần 92.000 doanh nghiệp đã rời khỏi thị trường chỉ trong 3 tháng là vấn đề đang được dư luận quan tâm. Bà đánh giá thế nào về con số này?
Đánh giá sức khỏe doanh nghiệp nếu chỉ nhìn vào các chỉ tiêu như doanh thu hay lợi nhuận thì chưa đủ, mà cần đánh giá tổng thể khả năng chống chịu và thích ứng trước những biến động của môi trường kinh tế.
Qua theo dõi số liệu thống kê, chúng tôi nhận thấy có một số yếu tố phản ánh khá rõ sức khỏe của doanh nghiệp. Điều đáng lưu tâm là trong 3 tháng đầu năm nay, trong khi số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tức là sẽ quay lại thị trường chỉ tăng 3,3%, thì doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể tăng 45%; doanh nghiệp giải thể tăng tới 99%.
Một điểm đáng lưu ý nữa là có tới gần 40% doanh nghiệp ở khu vực bán buôn, bán lẻ gặp khó khăn. Điều này cho thấy lĩnh vực này đang chịu tác động rõ nét từ sự thay đổi của thương mại, xu hướng tiêu dùng, cạnh tranh ngày càng mạnh và sức cầu của thị trường nội địa khá yếu.
Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, một tín hiệu tích cực là số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động đạt khoảng 96.000 đơn vị, tăng 31,7%. Điều này cho thấy sự vận động, sàng lọc tự nhiên của nền kinh tế, đồng thời phản ánh khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước bối cảnh thị trường thay đổi nhanh.
Có thể nói, bức tranh sức khỏe doanh nghiệp hiện nay là sự đan xen giữa khó khăn và cơ hội, trong đó thách thức vẫn là chủ đạo, nhưng nền tảng phục hồi vẫn đang được duy trì.
| Trong quý I/2026, Chỉ số Sản xuất công nghiệp vẫn tăng 9%, là mức tăng khá so với các quý gần đây |
Kể từ sau đại dịch Covid-19, chưa bao giờ, hoạt động sản xuất, kinh doanh khó như hiện nay. Thưa bà, về tổng thể “sức khỏe” của doanh nghiệp hiện tại ra sao?
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) đo lường sự thay đổi khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong các ngành công nghiệp quý I/2026 tăng 9% không phải là quá thấp so với các quý gần đây (dao động từ 9,3% đến 9,9%), thậm chí còn cao hơn cùng kỳ năm 2025, khi IIP chỉ tăng 8,3%. Tốc độ tăng trưởng 9% phản ánh tăng trưởng công nghiệp quý I vẫn rất ổn.
Song, khi lật lại góc nhìn thì cũng xuất hiện một số yếu tố bất lợi. Trước hết, về xu hướng theo tháng, do ảnh hưởng của xung đột Trung Đông, chỉ số IIP tháng 3 đã tăng chậm lại so với 2 tháng đầu năm. Xu hướng này khá phù hợp với Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) Việt Nam những tháng gần đây dao động quanh ngưỡng 50, cho thấy sản xuất công nghiệp đang ở trạng thái mở rộng nhưng không mạnh và có dấu hiệu chững lại. Như vậy, mức tăng 9% của quý I chủ yếu được đóng góp bởi mức tăng của 2 tháng đầu năm, còn sang tháng 3 thì tốc độ tăng đã có dấu hiệu chậm lại.
Dù lạc quan, nhưng chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng, triển vọng thời gian tới vẫn còn nhiều khó khăn và rủi ro như giá dầu thế giới và trong nước tăng cao, chi phí logistics tăng, thị trường xuất khẩu phục hồi nhưng chưa thực sự vững chắc, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn ở mức cao và áp lực chi phí đầu vào vẫn còn. Vì vậy, tăng trưởng công nghiệp trong các quý tới có thể còn biến động và phụ thuộc nhiều vào thị trường xuất khẩu, đầu tư và các chính sách hỗ trợ sản xuất, kinh doanh trong nước.
Nhìn trên khía cạnh tích cực, theo bà, vì sao IIP quý I năm nay vẫn khá ổn so với các quý gần đây?
Thứ nhất, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu của toàn ngành công nghiệp, với một số ngành gắn với đơn hàng xuất khẩu như điện tử, thiết bị điện, dệt may, da giày, chế biến gỗ vẫn duy trì mức tăng khá. Đây là những ngành chiếm tỷ trọng lớn, nên chỉ cần các ngành này duy trì tăng trưởng là có thể giữ nhịp tăng của toàn ngành.
Thứ hai, nhóm sản phẩm phục vụ cho xây dựng tăng cao, như sắt thép, xi măng và các sản phẩm từ khoáng phi kim loại. Điều này phản ánh hoạt động xây dựng, đặc biệt là xây dựng các công trình từ nguồn vốn đầu tư công, đang được đẩy mạnh và có tác động lan tỏa sang sản xuất công nghiệp.
Than, dầu, khí đốt là đầu vào của các nhà máy nhiệt điện. Cuộc chiến ở Trung Đông đã ảnh hưởng tới đầu vào của các nhà máy nhiệt điện, song sản xuất và phân phối điện vẫn duy trì tăng trưởng ổn định, đáp ứng nhu cầu của sản xuất công nghiệp và xây dựng. Nếu nhìn theo cơ cấu tiêu dùng điện thì có thể thấy, sản lượng điện tiêu dùng cho ngành công nghiệp và xây dựng tăng khá (tăng 8,3%), chứng tỏ các ngành sản xuất duy trì nhịp tăng trưởng khá và cùng nhịp với tăng trưởng của tiêu dùng điện cho các ngành sản xuất.
Công nghiệp chế biến, chế tạo là đầu tàu của nền kinh tế và phụ thuộc rất lớn vào xuất khẩu. Hoạt động của doanh nghiệp trong lĩnh vực này ra sao khi xuất khẩu gặp khó do eo biển Hormuz bị ngưng trệ, thưa bà?
Qua kết quả điều tra xu hướng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, chúng tôi nhận thấy, khó khăn lớn nhất hiện nay vẫn là cầu thị trường thấp. Cụ thể, có tới 45,6% gặp khó khăn do nhu cầu thị trường thấp. Điều này phản ánh rõ thực tế là cả thị trường trong nước và quốc tế đều đang phục hồi chậm, trong khi sức mua chưa thực sự mạnh.
Bên cạnh đó, áp lực cạnh tranh cũng là một thách thức lớn. Gần 49% doanh nghiệp cho biết đang chịu sức ép cạnh tranh rất lớn. Khi cầu thị trường chưa phục hồi mạnh, trong khi số lượng doanh nghiệp lớn, mức độ cạnh tranh về giá, chất lượng và thị phần càng trở nên gay gắt hơn.
Một khó khăn khác là chi phí đầu vào tăng, đặc biệt là chi phí năng lượng, logistics và nguyên vật liệu. Những yếu tố này chịu tác động từ biến động địa chính trị thế giới, trong đó có căng thẳng tại Trung Đông làm gia tăng chi phí vận tải và giá năng lượng toàn cầu.
Theo số liệu điều tra, khoảng 27,3% doanh nghiệp chế biến, chế tạo bị ảnh hưởng bởi tình trạng thiếu nguyên vật liệu và chi phí đầu vào tăng (tăng 7,5 điểm phần trăm so với quý trước). Đây là mức tăng đáng lưu ý và cho thấy áp lực chi phí vẫn chưa giảm. Hoạt động xuất khẩu đương nhiên không tránh khỏi tác động tiêu cực từ cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Israel với Iran, khi có tới 28,6% số doanh nghiệp gặp khó khăn do nhu cầu thị trường thế giới thấp.
Khi cầu yếu mà chi phí lại tăng, doanh nghiệp phải đối mặt với “tác động kép”, khiến biên lợi nhuận bị thu hẹp và khả năng tích lũy bị suy giảm.
Để hỗ trợ doanh nghiệp chế biến, chế tạo phục hồi và phát triển, theo bà cần những giải pháp gì trong bối cảnh hiện nay?
Việt Nam đã có Chính phủ khóa mới, nhiệm kỳ 2026-2030. Chính phủ nhiệm kỳ mới sẽ tiếp tục tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt theo 5 quan điểm, trọng tâm chỉ đạo điều hành được đặt ra tại Nghị quyết 01/NQ-CP. Trong đó có việc giữ đà, giữ nhịp và tăng tốc, bứt phá; bám sát thực tiễn, nhận diện và phát huy hiệu quả mọi cơ hội, thuận lợi; kịp thời ứng phó với những vấn đề phát sinh; giải quyết hiệu quả các vấn đề trước mắt để tạo đà tăng trưởng; thực hiện cải cách chiến lược, dài hạn để chuyển đổi mô hình phát triển...
Công việc trọng tâm trước mắt của Chính phủ nhiệm kỳ mới là tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và giữ ổn định mặt bằng lãi suất để giảm áp lực chi phí tài chính cho doanh nghiệp. Thị trường nội địa vẫn khá yếu, xuất khẩu chắc chắn sẽ bị tác động tiêu cực do người tiêu dùng trong nước cũng như trên thế giới đang có xu hướng “thắt lưng buộc bụng”. Vì vậy, để tăng trưởng 2 con số thì buộc phải đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, đặc biệt là dự án hạ tầng lớn, nhằm tạo việc làm và kích thích các ngành liên quan như vật liệu xây dựng và cơ khí.
Bên cạnh đó, phải cập nhật kịp thời giá vật liệu xây dựng để phản ánh đúng biến động thị trường, giúp doanh nghiệp có cơ sở điều chỉnh chi phí hợp lý; tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục hành chính, đất đai và giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ dự án và cải thiện dòng tiền cho doanh nghiệp; tiếp tục triển khai các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp như giảm chi phí logistics, hỗ trợ chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh.