Tại Tọa đàm “Thế hệ người Việt trẻ nói không với thuốc lá” do Báo Nhân Dân tổ chức ngày 27/10, các chuyên gia, nhà quản lý đã chỉ ra những thách thức mới trong công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá, đặc biệt là sự thay đổi trong phương thức quảng bá sản phẩm, khả năng tiếp cận của trẻ em với các nội dung tiếp thị trá hình và những hạn chế của hệ thống cảnh báo sức khỏe hiện hành.
| PGS-TS.Lê Thị Thanh Hương, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y tế công cộng. Ảnh Duy Minh |
Theo Ths.Đoàn Thu Huyền, Giám đốc quốc gia Tổ chức Campaign for Tobacco-Free Kids tại Việt Nam, hoạt động tiếp thị thuốc lá hiện không còn giới hạn ở các hình thức quảng cáo trực tiếp mà ngày càng được lồng ghép vào phong cách sống, nội dung giải trí, hoạt động tài trợ, chương trình khuyến mại và sự xuất hiện của những người có ảnh hưởng trên mạng xã hội.
Báo cáo được dẫn tại Tọa đàm cho thấy, trong giai đoạn 2018-2021, các nội dung quảng bá sản phẩm nicotine và thuốc lá mới trên mạng xã hội ghi nhận hơn 3,4 tỷ lượt xem, tiếp cận khoảng 385 triệu người, trong đó có 16 triệu người dưới 18 tuổi. Quy mô tiếp cận này phản ánh sức lan tỏa đáng chú ý của hoạt động tiếp thị trên môi trường số, đồng thời cho thấy những khó khăn trong việc nhận diện, giám sát và ngăn chặn các thông điệp quảng bá hướng tới giới trẻ.
Ông Đặng Hoa Nam, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam nhận định, sự phát triển của các nền tảng chia sẻ video, mạng xã hội, trò chơi trực tuyến và cộng đồng số đang khiến trẻ em tiếp xúc với nhiều hình thức tiếp thị tinh vi hơn quảng cáo truyền thống. Hình ảnh thuốc lá có thể xuất hiện trong video ngắn, các buổi phát trực tiếp, bài đăng cá nhân hoặc nội dung do người nổi tiếng chia sẻ mà không thể hiện rõ mục đích thương mại.
Đáng lo ngại, thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng thường được thiết kế với màu sắc, kiểu dáng bắt mắt, thậm chí mô phỏng những thiết bị công nghệ thông dụng. Các sản phẩm này còn được quảng bá gắn với hình ảnh hiện đại, cá tính, sự tự tin và phong cách sống được giới trẻ yêu thích, dễ tạo ra nhận thức sai lệch về mức độ nguy hiểm đối với sức khỏe.
Theo các chuyên gia, việc thường xuyên tiếp xúc với những hình ảnh mang tính cổ súy có thể khiến hành vi sử dụng thuốc lá dần trở nên quen thuộc trong nhận thức của thanh thiếu niên, làm giảm sự cảnh giác trước nguy cơ nghiện nicotine và các tác động bất lợi đối với sức khỏe. Nguy cơ càng đáng quan tâm bởi trẻ em, thanh thiếu niên đang trong giai đoạn phát triển về thể chất, trí tuệ và tâm lý, dễ chịu ảnh hưởng bởi xu hướng xã hội và áp lực đồng trang lứa.
Mối hệ lụy khác cũng hiện hữu trong môi trường sinh hoạt hằng ngày khi nghiên cứu Tiny Targets năm 2021 tại khu vực xung quanh 240 trường học ở Hà Nội và TP.HCM ghi nhận trung bình 13 điểm bán thuốc lá trong bán kính 100 m quanh mỗi trường. Trong số các điểm bán được khảo sát, 57,6% trưng bày thuốc lá ở tầm mắt trẻ em, trong khi 27,9% đặt sản phẩm gần bánh kẹo, đồ chơi.
Những kết quả này cho thấy việc bảo vệ trẻ em trước tác hại của thuốc lá cần được triển khai đồng bộ, bao gồm kiểm soát hoạt động quảng bá trên môi trường số, quản lý điểm bán và hạn chế những hình thức trưng bày có khả năng thu hút sự chú ý của người chưa thành niên.
Trong bối cảnh Quốc hội xem xét dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, nhiều ý kiến cho rằng việc hoàn thiện hành lang pháp lý cần hướng tới mục tiêu chủ động phòng ngừa, khắc phục những khoảng trống quản lý phát sinh cùng sự phát triển của công nghệ và các phương thức kinh doanh mới.
Ông Nguyễn Hồng Ngọc, Phó Vụ trưởng Vụ Văn hóa - Xã hội, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho biết, dự thảo Luật đã bổ sung các khái niệm liên quan đến thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, hoạt động trưng bày và tiếp thị thuốc lá trực tiếp tới người tiêu dùng, nhằm cụ thể hóa quy định cấm tại Nghị quyết số 173/2024/QH15 của Quốc hội, bảo đảm tính thống nhất trong thực thi pháp luật.
Tuy nhiên, khái niệm nguyên liệu thuốc lá trong dự thảo chưa bao gồm các chất không chứa nicotine được sử dụng chuyên dùng cho sản phẩm thuốc lá, có thể phát sinh khoảng trống trong việc áp dụng quy định cấm đối với một số loại nguyên liệu. Vì vậy, cơ quan thẩm tra kiến nghị nghiên cứu bổ sung nhóm chất này, đồng thời xem xét quy định cấm đối với các sản phẩm có thiết kế của thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.
Từ góc độ bảo vệ quyền trẻ em, ông Đặng Hoa Nam đề nghị hoàn thiện quy định về quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, trưng bày và kinh doanh thuốc lá trên môi trường điện tử, nhất là hoạt động quảng bá trá hình thông qua tài khoản cá nhân, hội nhóm kín hoặc những phương thức giao dịch trực tuyến khó kiểm soát.
Cùng với đó, cần xác định rõ trách nhiệm của các nền tảng số, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và chủ thể truyền thông trong phát hiện, tiếp nhận phản ánh, ngăn chặn, xử lý nội dung vi phạm. Việc nâng cao năng lực nhận diện quảng cáo trá hình cho trẻ em thông qua giáo dục tại gia đình, nhà trường và cộng đồng cũng cần được coi trọng, song trách nhiệm bảo vệ không thể chỉ đặt lên người trẻ mà phải gắn với vai trò quản lý của cơ quan chức năng và nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của các tổ chức, doanh nghiệp.
Bên cạnh kiểm soát hoạt động tiếp thị, hiệu quả cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá cũng được nhiều chuyên gia đề nghị xem xét trong quá trình sửa đổi Luật.
PGS-TS.Lê Thị Thanh Hương, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y tế công cộng cho biết, sau hơn 13 năm triển khai Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, sáu mẫu cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên bao bì thuốc lá tại Việt Nam vẫn được duy trì kể từ tháng 5/2013, với diện tích chiếm 50% mỗi mặt chính trước và sau bao bì. Trong khi đó, Luật năm 2012 quy định mẫu cảnh báo sức khỏe phải được thay đổi định kỳ hai năm một lần.
Việc sử dụng những hình ảnh quen thuộc trong thời gian dài có thể làm giảm khả năng thu hút sự chú ý, hạn chế tác động của thông điệp cảnh báo đối với người sử dụng thuốc lá.
Nghiên cứu năm 2015 ghi nhận 91,1% người hút thuốc nhận thấy cảnh báo sức khỏe trên bao bì. Trong khi đó, kết quả Điều tra thuốc lá ở người trưởng thành cấp tỉnh năm 2024 tại 37 tỉnh, thành phố cho thấy tỷ lệ người hút thuốc chú ý đến cảnh báo là 80%.
Mặc dù hai cuộc khảo sát được thực hiện ở những thời điểm, phạm vi khác nhau và chưa đủ cơ sở để kết luận trực tiếp về mức độ suy giảm hiệu quả, các kết quả này đặt ra yêu cầu đánh giá và đổi mới hệ thống cảnh báo sức khỏe. Đánh giá năm 2019 của Trường Đại học Y tế công cộng cũng ghi nhận hiệu quả của cả sáu mẫu cảnh báo đều giảm.
Trên cơ sở đó, PGS-TS.Lê Thị Thanh Hương đề xuất nâng diện tích cảnh báo sức khỏe lên ít nhất 85% mỗi mặt chính của bao bì, tăng kích thước hình ảnh, định kỳ thay đổi nội dung và bổ sung số điện thoại tổng đài tư vấn cai thuốc lá miễn phí.
Đề xuất này cũng được đề cập tại Báo cáo thẩm tra số 1208/BC-UBVHXH16 ngày 10/10/2026 của Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội. Theo đó, cơ quan thẩm tra đề nghị Chính phủ nghiên cứu nâng diện tích cảnh báo lên ít nhất 85%, hoặc xây dựng lộ trình cụ thể để đạt mức 85-100% diện tích mỗi mặt chính của bao bì thuốc lá.
Các chuyên gia cũng kiến nghị nghiên cứu lộ trình áp dụng bao bì tiêu chuẩn, còn gọi là bao bì trơn, nhằm hạn chế khả năng sử dụng màu sắc, hình ảnh và thiết kế bao bì như một công cụ quảng bá thương hiệu. Chính sách này đã được một số quốc gia trong khu vực ASEAN như Thái Lan, Singapore, Lào và Myanmar áp dụng.
Việc bổ sung thông tin hỗ trợ cai thuốc lá trên bao bì cũng được đánh giá là giải pháp cần thiết, giúp người hút thuốc có thêm cơ hội tiếp cận dịch vụ tư vấn và hỗ trợ thay đổi hành vi. Thay vì chỉ truyền tải những cảnh báo về ung thư, bệnh tim mạch và hô hấp, bao bì thuốc lá có thể đồng thời cung cấp thông tin về các kênh hỗ trợ cai nghiện phù hợp.
Theo các ý kiến tại Tọa đàm, việc sửa đổi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá cần giải quyết đồng thời những vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn, bao gồm kiểm soát các sản phẩm thuốc lá mới, ngăn chặn hoạt động tiếp thị trá hình, tăng hiệu quả cảnh báo sức khỏe và hỗ trợ người hút thuốc từ bỏ sử dụng sản phẩm.