| Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn báo cáo giải trình - Ảnh: Đức Thanh. |
Kiểm soát lạm phát là kết quả rất đáng ghi nhận
Với tăng trưởng và lạm phát, vấn đề nhiều đại biểu đề cập khi thảo luận, Bộ trưởng cho hay kết quả tăng trưởng 9 tháng đạt 9,01%, lạm phát ở mức 4,52%. Đây là cố gắng rất lớn trong bối cảnh xung đột địa chính trị tác động đến giá dầu, làm đứt gãy nguồn cung và ảnh hưởng đến các cơ sở lọc hóa dầu.
“Việc kiểm soát lạm phát ở mức 4,52% thực sự là một kết quả rất đáng ghi nhận”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Kết quả đáng ghi nhận đó, theo Bộ trưởng, là nhờ bên cạnh chính sách tiền tệ linh hoạt, chặt chẽ, bảo đảm ổn định tỷ giá và lãi suất, nhiều chính sách tài khóa đã được thực thi. Trong năm, quy mô miễn, giảm thuế khoảng 240.000 tỷ đồng, gia hạn khoảng 120.000 tỷ đồng, tổng cộng khoảng 360.000 tỷ đồng.
Người đứng đầu ngành tài chính cho biết, lãnh đạo Đảng, Chính phủ đã chỉ đạo rất quyết liệt để năm 2026 giữ được mặt bằng giá xung quanh mức 4,5%. Tới đây, Bộ Tài chính sẽ báo cáo tính toán phương án giá điện và đã báo cáo Chính phủ tiếp tục lùi thời điểm thu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng. Theo đó, toàn bộ thuế đối với xăng dầu được đưa về 0% và ngân sách sẽ chi thêm khoảng 4.000 tỷ đồng nữa.
“Thủ tướng Chính phủ và các đồng chí lãnh đạo chủ chốt xác định rất rõ: Tăng trưởng nhưng người dân phải được thụ hưởng thành quả, cụ thể ở đây là kiểm soát lạm phát xung quanh mức 4,5% và tăng trưởng đạt trên 10%”, Bộ trưởng báo cáo Quốc hội.
Theo Bộ trưởng, việc kiểm soát lạm phát “là kết quả rất đáng ghi nhận” trong công tác điều hành quyết liệt của cả hệ thống chính trị.
Về huy động nguồn lực, vấn đề được nhiều đại biểu đề cập, Bộ trưởng cho biết theo Kế hoạch tài chính 5 năm 2026 - 2030, yêu cầu nguồn lực phục vụ tăng trưởng trên 10% là rất lớn, đi cùng yêu cầu đưa chỉ số ICOR về mức từ 4,5 đến 4,8. Mức độ huy động cho tăng trưởng trong giai đoạn này tăng 2,21 lần so với giai đoạn 2021 - 2025.
Hồi âm lo ngại của đại biểu về sự phụ thuộc quá lớn vào thị trường tín dụng ngân hàng, Bộ trưởng cho biết vấn đề này Chính phủ đã nhận biết từ sớm, từ xa và có giải pháp với Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán. Việc triển khai bước đầu đạt nhiều kết quả, từ thị trường được nâng hạng đến việc trình Quốc hội tiếp tục sửa Luật Chứng khoán.
Bộ trưởng dẫn số liệu minh chứng, huy động vốn trên thị trường chứng khoán 9 tháng năm 2026 tăng 15% so với cùng kỳ. Từ cuối năm 2025 đến nay, có 10 doanh nghiệp IPO đã huy động được trên 60.000 tỷ đồng, gấp 9 lần cả giai đoạn 2021 - 2025. Theo Chiến lược, mục tiêu đến năm 2030 tổng vốn hóa thị trường đạt 120% GDP, so với mức hiện nay khoảng 90%; thị trường trái phiếu khoảng 50% GDP và thị trường sản phẩm phái sinh khoảng 20 - 30% GDP.
Để đạt các mục tiêu này, các giải pháp đã được xác định gồm tiếp tục củng cố khuôn khổ pháp lý, bảo đảm công khai, minh bạch để thu hút nhà đầu tư; đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, tránh tình trạng cô đặc để thu hút nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài; phát triển các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp trên thị trường để hỗ trợ nhà đầu tư nhỏ lẻ an tâm gửi gắm nguồn vốn.
Chuẩn bị dự án và khâu thực thi là quan trọng nhất
Giải trình về điều hành ngân sách nhà nước, Bộ trưởng làm rõ những vấn đề đại biểu quan tâm về chất lượng lập dự toán, chuyển nguồn và tạm ứng.
Về xây dựng dự toán, Bộ trưởng đồng ý với đại biểu rằng đây không phải vấn đề mới và cơ quan tài chính đã cố gắng để dự toán sát với kết quả thực hiện. Nguyên nhân có nhiều, song Bộ trưởng cũng thẳng thắn cho biết công tác phân tích dự báo còn hạn chế nên cần tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào việc phân tích dự báo.
Ngoài ra, theo Bộ trưởng, việc dự báo chưa sát cũng do những nguyên nhân bất khả kháng. Chẳng hạn như với năm 2025, các báo cáo dự báo tăng trưởng chỉ xung quanh mức 5,5 - 6,5%, nhưng kết thúc năm tăng trưởng đạt 8,02%, từ đó nguồn thu ngân sách tăng theo.
Bên cạnh đó, sau khi Quốc hội thông qua Luật Đất đai năm 2024, nguồn thu từ đất năm 2025 cũng tăng mạnh, đạt hơn 700.000 tỷ đồng, tốc độ tăng tới khoảng 98%. Ngoài ra, trong năm còn phát sinh một số khoản thu bất thường như chênh lệch thu chi của ngân hàng, bán vốn nhà nước và thu cổ tức.
Về chuyển nguồn, vấn đề được một số đại biểu cho rằng cần khắc phục, Bộ trưởng cho biết theo báo cáo quyết toán đã trình, năm 2025 chuyển nguồn đến 1,8 triệu tỷ đồng, tương đương hơn 40% dự toán. Những nguyên nhân chính là tăng thu lớn vào cuối năm; khởi công, triển khai nhiều dự án hạ tầng quan trọng có thời gian thực hiện dài nên phải chuyển vốn để đầu tư; nguồn chuyển thực hiện cải cách tiền lương chiếm gần 30%.
Đối với tạm ứng, Bộ trưởng cho biết giải ngân 9 tháng năm 2026 đạt 62,9%, nhưng tạm ứng chiếm tới 37%, chủ yếu ứng cho các công trình đầu tư hạ tầng quan trọng. Trước tình hình này, Chính phủ đã có chỉ đạo quyết liệt. Mới đây, ngày 8/10, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 312 yêu cầu tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, đặc biệt đẩy mạnh thanh quyết toán để nguồn tạm ứng được thanh quyết toán sớm.
Theo Bộ trưởng, muốn giảm chỉ số ICOR thì bắt buộc các công trình đầu tư phải sớm được đưa vào sử dụng. Yêu cầu này phải được thực hiện xuyên suốt từ khâu chuẩn bị, tổ chức triển khai đến thanh quyết toán và đưa công trình vào vận hành. Hiện nay, một công trình nhóm B có thời gian chuẩn bị ít nhất từ 18 tháng đến 2 năm.
Nguyên nhân giải ngân chậm và chuyển nguồn lớn cũng được Bộ trưởng làm rõ: “Thực chất do công tác chuẩn bị dự án vẫn còn bất cập, đặc biệt là các dự án ODA”. Bộ trưởng cho biết thêm số lượng dự án phải điều chỉnh dự án, dự toán, thiết kế khi triển khai bằng vốn đầu tư công và vốn ODA là ngang nhau. Tuy nhiên, quy trình ODA phức tạp hơn vì liên quan đến vốn nước ngoài, phải có sự thỏa thuận và ký lại hiệp định nên thời gian kéo dài hơn.
Vì vậy, để đẩy nhanh công trình đưa vào khai thác, tăng hiệu quả, giảm chỉ số ICOR, giảm chuyển nguồn và giảm tạm ứng thì khâu chuẩn bị dự án và khâu thực thi là quan trọng nhất, Bộ trưởng làm rõ.