Du lịch
Mùa cao điểm khách quốc tế: Việt Nam đã sẵn sàng đón dòng khách lớn?
Hồ Hạ - 20/10/2026 14:03
Khách quốc tế tăng mạnh, năng lực phát triển du lịch Việt Nam thăng hạng. Mùa cao điểm cuối năm sẽ là phép thử khả năng hấp thụ dòng khách lớn và chuyển tăng trưởng thành giá trị.
Cầu Vàng Đà Nẵng là một trong những điểm đến tạo sức hút đối với du khách trong và ngoài nước (Ảnh: P.V)

7,3 triệu khách và phép thử của mùa cao điểm

Mùa cao điểm khách quốc tế cuối năm bắt đầu trong bối cảnh du lịch Việt Nam duy trì đà tăng trưởng tích cực. Theo Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, tháng 9/2026, Việt Nam đón hơn 1,768 triệu lượt khách quốc tế, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 9 tháng, lượng khách đạt hơn 17,68 triệu lượt, tăng 14,5%.

Đà tăng trưởng diễn ra đồng thời với bước tiến đáng kể về năng lực phát triển du lịch. Báo cáo Chỉ số năng lực phát triển du lịch (TTDI) năm 2026 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) xếp Việt Nam thứ 52/110 nền kinh tế với 4,15 điểm, tăng 7 bậc so với năm 2024 và 11 bậc so với năm 2019. Điểm số tăng 6,1% trong giai đoạn 2024-2026, thuộc nhóm cải thiện mạnh nhất thế giới.

Nghị quyết số 26-NQ/TW đã mở ra một dư địa rất lớn, chính sách rất lớn, nhưng chỉ trở thành sức bật khi thực sự có sự vào cuộc chủ động, tích cực và quyết liệt từ cơ sở. Mong rằng các địa phương mạnh dạn rà soát quy hoạch, bố trí quỹ đất và tiên phong đề xuất những cơ chế thí điểm cho khu du lịch, trung tâm du lịch trên địa bàn. Cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, tiếp tục giữ vai trò tiên phong đầu tư vào những tổ hợp du lịch, văn hóa, giải trí quy mô lớn, vào hạ tầng cảng biển, hàng không, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Đồng hành cùng Nhà nước đưa thương hiệu du lịch Việt Nam ra thế giới.

- Ông Nguyễn Trùng Khánh, Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam

TTDI không đo lượng khách hay doanh thu, mà phản ánh những điều kiện nền tảng cho phát triển du lịch như môi trường kinh doanh, nhân lực, hạ tầng, kết nối và tài nguyên. Vì vậy, mùa cao điểm cuối năm cũng là phép thử thực tế đối với năng lực mà Việt Nam đang cải thiện trên bảng xếp hạng quốc tế.

Dòng khách hiện tăng từ nhiều thị trường. Trung Quốc và Hàn Quốc tiếp tục giữ vai trò chủ lực, trong khi Ấn Độ, Nga và một số thị trường xa phục hồi mạnh. Đáng chú ý, khách Nga đã vượt 1 triệu lượt sau 8 tháng, cho thấy hiệu quả từ việc khôi phục và mở rộng kết nối hàng không trực tiếp.

Sức tăng cũng thể hiện rõ tại các trung tâm du lịch. Trong 9 tháng, Khánh Hòa đón hơn 7,1 triệu lượt khách quốc tế, tăng hơn 69%; Phú Quốc đón hơn 1,92 triệu lượt, tăng 60,2%. Hà Nội đạt khoảng 6,67 triệu lượt khách quốc tế, tăng 22%, trong khi Quảng Ninh ghi nhận khoảng 4,21 triệu lượt.

Những con số này đưa mục tiêu 25 triệu khách quốc tế năm 2026 vào chặng nước rút. Với hơn 17,68 triệu lượt sau 9 tháng, Việt Nam cần đón thêm khoảng 7,32 triệu lượt trong quý IV, tương đương bình quân 2,44 triệu lượt mỗi tháng. So với 1,768 triệu lượt của tháng 9, yêu cầu tăng tốc trong ba tháng cuối năm là rất lớn, dù đây là mùa cao điểm của thị trường inbound.

Phép thử ấy còn mang ý nghĩa dài hạn. Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, du lịch đóng góp trực tiếp 10-12% GDP, đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, tổng thu đạt 80-90 tỷ USD; đến năm 2045, Việt Nam hướng tới nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới.

Bởi vậy, 25 triệu khách không đơn thuần là đích đến của năm 2026, mà còn là phép thử năng lực tiếp nhận một quy mô thị trường lớn hơn nhiều trong tương lai.

Đón 25 triệu khách, cần một hệ sinh thái đủ mạnh

Khi hơn 83% khách quốc tế đến Việt Nam bằng đường hàng không, năng lực kết nối và khai thác của hệ thống cảng hàng không trở thành một trong những điều kiện quyết định khả năng hấp thụ dòng khách. Dư địa hạ tầng được kỳ vọng tiếp tục mở rộng với các dự án hàng không trọng điểm, trong đó có Cảng hàng không quốc tế Long Thành.

Tuy nhiên, sân bay, đường bay hay cơ sở lưu trú mới chỉ là những mắt xích riêng lẻ. Khả năng tiếp nhận dòng khách lớn phụ thuộc vào mức độ vận hành đồng bộ của cả hệ sinh thái.

Theo ông Nguyễn Trùng Khánh, Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, trong mô hình phát triển mới, “Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, điều phối; doanh nghiệp là lực lượng tiên phong dẫn dắt thị trường; người dân, cộng đồng là chủ thể tham gia và thụ hưởng; các địa phương chủ động phát huy các lợi thế riêng để có thể dệt nên một hệ sinh thái du lịch quốc gia đồng bộ và hiệu quả”.

Một điểm nghẽn đáng chú ý của hệ sinh thái ấy là nhân lực. Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, mỗi năm ngành du lịch cần khoảng 40.000 nhân lực nhưng mới đáp ứng được khoảng 20.000; trong tổng số nhân lực hiện nay, khoảng 43% đã qua đào tạo.

Khoảng trống càng lộ rõ ở những thị trường tăng trưởng nhanh. Trong khi lượng khách Nga đến Việt Nam đã vượt 1 triệu lượt sau 8 tháng, cả nước chỉ có 462 hướng dẫn viên quốc tế sử dụng tiếng Nga. Sự chênh lệch giữa tốc độ phục hồi của thị trường và khả năng cung ứng nhân lực đặt ra yêu cầu chuẩn bị sớm hơn đối với những thị trường nguồn đang tăng trưởng mạnh.

Nhân lực mới chỉ là một phần của bài toán. Hội nghị Lữ hành toàn quốc 2026 chỉ ra sản phẩm còn trùng lặp, liên kết chuỗi giá trị thiếu chiều sâu, trong khi ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và nền tảng số mới ở giai đoạn đầu.

Đây cũng là vấn đề được Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà, Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch đặt ra khi yêu cầu đổi mới tư duy phát triển du lịch, khắc phục tình trạng “riêng lẻ, phân mảnh, chia cắt, thiếu liên kết”, hướng tới kết nối các nguồn lực, chủ thể và hoạt động du lịch trong một hệ thống thống nhất.

Cùng với tổ chức lại chuỗi giá trị, yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về du lịch “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung” cũng được đặt ra, tạo nền tảng cho quản trị, dự báo thị trường, xúc tiến và phát triển sản phẩm.

Từ thực tiễn, ông Trương Quốc Hùng, Chủ tịch Câu lạc bộ Lữ hành UNESCO Hà Nội cho rằng, cách hợp tác truyền thống có thể hình dung đơn giản là “lữ hành làm sản phẩm, vận tải cung cấp phương tiện”. Tuy nhiên, cách tiếp cận này cần thay đổi bởi “ngày nay khách du lịch không chỉ mua một điểm đến. Khách mua toàn bộ trải nghiệm của một hành trình”.

Theo ông Hùng, doanh nghiệp vận tải, lữ hành và điểm đến cần chuyển từ quan hệ mua - bán dịch vụ sang cùng kiến tạo sản phẩm. Các bên có thể cùng nghiên cứu thị trường, thiết kế hành trình, thử nghiệm sản phẩm, tiến tới chia sẻ dữ liệu về lịch chạy, tình trạng chỗ, giá và trạng thái xác nhận. Với những hành trình kết hợp nhiều dịch vụ, vé dùng chung cũng có thể được nghiên cứu để giảm thao tác đặt dịch vụ và thanh toán cho du khách.

Nhìn rộng hơn, WEF lưu ý sự gia tăng hoạt động du lịch và chi tiêu của du khách không mặc nhiên chuyển thành lợi ích kinh tế - xã hội tương xứng. Tăng trưởng nhanh cũng có thể tạo thêm sức ép lên hạ tầng, nhân lực, cộng đồng và tài nguyên nếu thiếu năng lực quản trị.

Vì vậy, khoảng 7,3 triệu lượt khách quốc tế cần đạt trong quý IV không đơn thuần là bài toán đưa thêm khách qua cửa khẩu. Phía sau con số ấy là khả năng hấp thụ của cả hệ sinh thái: hạ tầng có theo kịp, nhân lực có đáp ứng, các dịch vụ có kết nối, sản phẩm có đủ sức kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng chi tiêu hay không.

Việt Nam đã tăng 7 bậc trên bảng xếp hạng năng lực phát triển du lịch toàn cầu. Nhưng bước tiến về thứ hạng chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh của điểm đến và giá trị cho nền kinh tế.

Mốc 25 triệu khách quốc tế vì thế vừa là đích đến của năm 2026, vừa là phép thử cho khả năng chuẩn bị trước mục tiêu 45-50 triệu lượt vào năm 2030. Khi đó, thước đo tăng trưởng sẽ không dừng ở số lượt khách, mà còn nằm ở thời gian lưu trú, mức chi tiêu, tỷ lệ quay trở lại và giá trị, mà mỗi hành trình tạo ra cho nền kinh tế.

Tin liên quan
Tin khác