Tiêu dùng
Muốn có rau an toàn, trước hết phải có tiêu chuẩn khả thi
Nhung Bùi - 10/06/2026 10:36
Bộ tiêu chuẩn mới về rau an toàn được kỳ vọng sẽ thu hẹp khoảng cách giữa yêu cầu quản lý và điều kiện sản xuất thực tế, tạo điều kiện để nhiều nông hộ, hợp tác xã tham gia chuỗi cung ứng nông sản an toàn.

Tiêu chuẩn phải bắt đầu từ thực tiễn sản xuất

Rau là một trong những nhóm thực phẩm có tác động trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng, song việc mở rộng sản xuất rau an toàn tại Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản. Dù các tiêu chuẩn và quy trình sản xuất đã được ban hành từ nhiều năm nay, tỷ lệ diện tích rau được chứng nhận theo các tiêu chuẩn an toàn vẫn ở mức rất thấp.

Theo số liệu của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, năm 2025 cả nước có khoảng 1,15 triệu ha rau, nhưng diện tích đạt chứng nhận VietGAP chỉ hơn 8.000 ha, tương đương khoảng 0,5-0,6% tổng diện tích. Thực tế này cho thấy khoảng cách đáng kể giữa yêu cầu kỹ thuật và khả năng áp dụng của nông hộ, hợp tác xã sản xuất rau.

Trong bối cảnh đó, việc xây dựng Tiêu chuẩn quốc gia về quy trình sản xuất, sơ chế rau bảo đảm an toàn thực phẩm được kỳ vọng sẽ tạo ra một khung hướng dẫn thống nhất, dễ áp dụng hơn, đồng thời vẫn đáp ứng yêu cầu về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và minh bạch thông tin của thị trường.

Việc xây dựng Tiêu chuẩn quốc gia về quy trình sản xuất, sơ chế rau an toàn đang nhận được nhiều góp ý từ các hợp tác xã, doanh nghiệp.

Tại Hội thảo lấy ý kiến về việc xây dựng tiêu chuẩn rau an toàn, do Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Viện Nghiên cứu Rau quả tổ chức ngày 9/6 vừa qua, các đại biểu đều thống nhất quan điểm, tiêu chuẩn mới cần được thiết kế theo hướng đơn giản hơn, dễ áp dụng hơn nhưng vẫn bảo đảm các yêu cầu cốt lõi về an toàn thực phẩm.

Là đơn vị trực tiếp tổ chức sản xuất, đại diện nhiều hợp tác xã đánh giá bản dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) về quy trình sản xuất, sơ chế đối với rau ăn lá, rau ăn quả và rau ăn củ/thân bảo đảm an toàn thực phẩm, đã có cách tiếp cận phù hợp khi xây dựng một khung yêu cầu chung cho toàn bộ quá trình sản xuất và sơ chế, đồng thời bổ sung các quy định riêng cho từng nhóm rau thông qua hệ thống phụ lục.

Ông Hoàng Anh Thư, Phó Giám đốc Hợp tác xã Tân Minh Đức (Hải Phòng) cho rằng, các nhóm rau ăn lá, rau ăn quả, rau ăn củ hay rau thân đều có nhiều điểm tương đồng về yêu cầu đối với đất trồng, nguồn nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, quản lý hồ sơ và truy xuất nguồn gốc. Do đó, việc xây dựng một bộ khung chung sẽ giúp giảm chồng chéo, tạo thuận lợi cho người sản xuất trong quá trình áp dụng.

Cùng quan điểm, ông Nguyễn Văn Minh, Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất kinh doanh dịch vụ nông nghiệp Văn Đức (Hà Nội) đánh giá cao việc dự thảo tập trung vào các yếu tố có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn thực phẩm thay vì đưa vào quá nhiều yêu cầu kỹ thuật chi tiết.

Theo ông Minh, phần lớn hộ trồng rau hiện vẫn sản xuất quy mô nhỏ, nguồn lực hạn chế nên tiêu chuẩn chỉ phát huy hiệu quả khi người sản xuất có thể áp dụng được trong thực tế. Vì vậy, tiêu chuẩn cần ngắn gọn, dễ hiểu và tập trung vào những yêu cầu cốt lõi.

Nhấn mạnh tại hội thảo, ông Nguyễn Quý Dương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cho rằng, việc xây dựng một bộ tiêu chuẩn theo hướng đơn giản, khả thi là cần thiết để tạo điều kiện cho nhiều đối tượng sản xuất nhỏ lẻ tham gia vào chuỗi giá trị nông sản an toàn. Theo ông, mục tiêu không phải xây dựng một bộ tiêu chuẩn cao hơn hay thấp hơn các tiêu chuẩn hiện có, mà là một bộ tiêu chuẩn phù hợp với điều kiện sản xuất của Việt Nam.

Giảm thủ tục, tăng truy xuất và kiểm soát chất lượng

Bên cạnh nội dung kỹ thuật, nhiều đại biểu cũng đề nghị xem xét lại tần suất lấy mẫu và xét nghiệm đất, nước tại các vùng sản xuất ổn định, ít nguy cơ ô nhiễm. Theo đó, cơ quan quản lý nên tập trung nguồn lực giám sát tại những khu vực có nguy cơ cao, trong khi các vùng sản xuất ổn định có thể áp dụng cơ chế kiểm tra phù hợp hơn nhằm giảm chi phí cho người sản xuất nhưng vẫn bảo đảm hiệu quả quản lý.

Toàn cảnh hội thảo lấy ý kiến về việc xây dựng tiêu chuẩn quốc gia cho rau an toàn.

Một nội dung khác được nhiều ý kiến đánh giá là có vai trò quyết định đối với việc nâng cao niềm tin của thị trường, đó là truy xuất nguồn gốc.

Theo các hợp tác xã và doanh nghiệp, tiêu chuẩn mới cần khuyến khích mạnh mẽ việc ứng dụng công nghệ số thông qua nhật ký điện tử, mã QR sản phẩm, mã số vùng trồng và các nền tảng truy xuất nguồn gốc điện tử.

Tuy nhiên, đại diện một số doanh nghiệp thu mua và phân phối rau quả cho rằng việc ứng dụng công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi có sự thống nhất trong tổ chức thực hiện. Do đó, cơ quan quản lý cần đóng vai trò chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, chuẩn hóa hệ thống mã định danh sản phẩm và nền tảng truy xuất nguồn gốc ở quy mô quốc gia. Nếu mỗi địa phương hoặc doanh nghiệp sử dụng một hệ thống riêng, dữ liệu sẽ bị phân tán, gây khó khăn cho việc kết nối và quản lý.

Từ góc độ chuyên môn, GS.TS Trần Khắc Thi, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả cho rằng, việc xây dựng bộ tiêu chuẩn riêng cho sản xuất rau an toàn là rất cần thiết bởi rau là nhóm nông sản có mức độ rủi ro về an toàn thực phẩm cao.

Theo ông, nhiều loại rau được sử dụng trực tiếp mà không qua chế biến hoặc xử lý nhiệt, trong khi cây rau có khả năng hấp thu mạnh các yếu tố từ môi trường đất và nước. Vì vậy, việc kiểm soát các nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng cần được đặt ở vị trí trung tâm của bộ tiêu chuẩn.

Chuyên gia này cũng đề nghị bổ sung các quy định liên quan đến sản xuất rau trái vụ trong nhà lưới, nhà màng và các mô hình canh tác hiện đại đang ngày càng phổ biến. Đáng chú ý, ông kiến nghị đưa chỉ tiêu nitrat vào nhóm các yếu tố cần kiểm soát do đây là chỉ tiêu đã được đề cập trong nhiều quy trình sản xuất rau an toàn trước đây và có ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe người tiêu dùng.

Các đại biểu thống nhất rằng, bên cạnh việc hoàn thiện tiêu chuẩn, cần xây dựng sổ tay hướng dẫn, tổ chức tập huấn cho người sản xuất, hỗ trợ ứng dụng truy xuất nguồn gốc và thúc đẩy liên kết tiêu thụ. Chỉ khi tiêu chuẩn bảo đảm tính khả thi đối với nông dân, đáp ứng yêu cầu quản lý và phù hợp với nhu cầu thị trường, mục tiêu nâng cao chất lượng nông sản, bảo đảm an toàn thực phẩm và tăng sức cạnh tranh cho ngành rau Việt Nam mới có thể đạt được.

Tin liên quan
Tin khác