Đầu tư tài chính
Nếu tiếp tục dựa vào tín dụng, hệ thống ngân hàng sẽ gặp rủi ro
Hà Tâm - 30/01/2026 10:02
Dù nhu cầu vốn cho tăng trưởng giai đoạn tới là rất lớn song nếu giảm bớt tín dụng, khoảng trống vốn dài hạn cho tăng trưởng vẫn chưa có kênh thay thế rõ ràng. Trong khi đó, nếu tiếp tục dựa vào tín dụng, hệ thống ngân hàng sẽ gặp rủi ro.

Áp lực đè nặng lên tín dụng ngân hàng

FiinGroup vừa phát hành báo cáo Triển vọng Kinh tế Việt Nam 2026: Định vị Nguồn vốn cho Mục tiêu tăng trưởng cao 2026 - 2030.

Theo FiinGroup, Việt Nam đang phải đối diện với áp lực lớn cho đầu tư tư nhân giai đoạn 2026 - 2030. Đó là khoảng trống về nguồn vốn lớn và dài hạn, đặc biệt cho các dự án đầu tư trung và dài hạn của khu vực tư nhân và các dự án hạ tầng lớn.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng không thể tiếp tục lệ thuộc vào vốn đầu tư công và tín dụng.

Hiện tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã đạt 18,4 triệu tỷ đồng, tương đương với 702 tỷ USD và tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đã lên mức cao 146% vào cuối năm 2025. Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của toàn ngân hàng khoảng 28,32% tại cuối tháng 11/2024 (gần chạm trần quy định 30% của Ngân hàng Nhà nước), CAR nhóm Big 4 dưới 11% tại thời điểm giữa 2025 và áp lực triển khai Basel III (lộ trình đến 2030).

Các chỉ số này cho thấy hệ thống các Ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam sẽ không đủ sức để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn cho đầu tư nói chung, trong đó có các dự án hạ tầng lớn của Việt Nam.

"Tuy nhiên, khoảng trống vốn dài hạn cho tăng trưởng vẫn chưa có kênh thay thế rõ ràng", các chuyên gia phân tích FiinGroup nhận định.

Hiện nay, mô hình của Việt Nam vẫn phụ thuộc lướn vào tín dụng ngân hàng trong khi dư địa mở rộng tín dụng bị giới hạn bởi rủi ro hệ thống và yêu cầu ổn định vĩ mô. Đầu tư công giữ vai trò dẫn dắt nhưng khó mở rộng về quy mô, còn vốn FDI chủ yếu nâng cao năng lực sản xuất hơn là bổ sung thanh khoản tài chính.

Theo chuyên gia phân tích, hiện nay, mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào mở rộng tín dụng tại Việt Nam đang tiệm cận giới hạn an toàn. Để duy trì tốc độ tăng trưởng 16%/năm thì tỷ lệ tín dụng/GDP sẽ vượt 180% vào cuối thập kỷ và tiệm cận hoặc vượt mức 200% vào sau năm 2030. Mức độ đòn bẩy này vượt xa ngưỡng an toàn của một nền kinh tế mới nổi, làm gia tăng rủi ro với ổn định tài chính và khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng.

Trong bối cảnh an toàn vốn (CAR) chịu áp lực, rủi ro tài sản tích tụ và yêu cầu kiểm soát lạm phát gia tăng, việc tiếp tục dựa vào mở rộng tín dụng để đạt tăng trưởng cao không còn là lựa chọn bền vững.

Điều này cho thấy, tăng trưởng giai đoạn tới không thể tiếp tục được tài trợ chủ yếu bằng tín dụng ngân hàng mà cần sự dịch chuyển sang căn bản các kênh dẫn vốn khác.

Rủi ro càng nhân lên trong bối cảnh ngân hàng mất cân đối kỳ hạn (huy động chủ yếu vốn ngắn hạn trong khi cho vay chủ yếu trung, dài hạn). Ngoài ra, trong 3 năm qua, tín dụng bất động sản tăng vượt trội so với tín dụng toàn nền kinh tế, cho thấy dòng vốn tiếp tục ưu tiên tài sản hơn là hoạt động sản xuất kinh doanh tạo giá trị gia tăng dài hạn.

Nói cách khác, điểm nghẽn tín dụng không nằm ở quy mô tín dụng mà nằm ở cấu trúc phân bổ tín dụng theo ngành. Việc tập trung vào tín dụng bất động sản làm gia tăng rủi ro, nhất là khi thị trường bất động sản hồi phục không đồng đều, thanh khoản phần lớn phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, tạo áp lực lên CAR và năng lực cấp vốn trung, dài hạn cho các lĩnh vực còn lại.

Tăng trưởng tín dụng nếu tiếp tục cao sẽ nhanh chóng chuyển hóa thành áp lực lên CAR, đặc biệt với các ngân hàng có nền tảng vốn mỏng. Do đó, tăng tín dụng trong giai đoạn tới không còn là bài toán phân bổ hạn mức, mà là bài toán về năng lực vốn của từng ngân hàng. Dù vậy, việc các ngân hàng dồn dập phát hành trái phiếu thời gian qua cho thấy, các ngân hàng tăng vốn chủ yếu dựa vào vốn nợ hơn vốn tự có, hàm nghĩa tăng vốn rất thiếu bền vững.

Tái định vị lại thị trường trái phiếu doanh nghiệp

Trong bối cảnh dư địa mở rộng tín dụng đã đến ngưỡng, FiinGroup cho rằng, việc tái định vị hệ thống huy động vốn theo hướng lấy thị trường vốn – đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) – làm trụ cột là điều kiện then chốt để khai mở nguồn vốn dài hạn cho khu vực tư nhân. Việc phát triển đồng bộ các kênh vốn là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững giai đoạn tới.

Các chuyên gia cho rằng, có 3 nguồn vốn chiến lược cần được kích hoạt là: trái phiếu doanh nghiệp, vốn vay quốc tế và huy động vốn cổ phần trên thị trường chứng khoán. Trong đó, thị trường TPDN có vai trò đặc biệt quan trọng.

Theo báo cáo từ FiinGroup, thị trường TPDN Việt Nam năm 2025 đã ghi nhận sự phục hồi rõ nét với tổng phát hành ước đạt 630.000 tỷ đồng, tăng 32% so với 2024.

Tuy nhiên, kênh huy động vốn trung dài hạn này vẫn chưa phát huy hết vai trò dẫn vốn đối với khu vực sản xuất, công nghiệp - khi ngân hàng chiếm tới 68% giá trị phát hành, trong khi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh lại gần như vắng bóng.

Dư nợ trái phiếu doanh nghiệp mới chỉ đạt khoảng 10% GDP, còn cách xa mục tiêu 25% GDP vào năm 2030.

Với năm 2026, FiinGroup dự báo, triển vọng sẽ tích cực khi chính sách tiền tệ không còn nới lỏng như trước trong khi nhu cầu vốn trung - dài hạn của doanh nghiệp gia tăng mạnh như hiện nay, buộc các doanh nghiệp phải đa dạng hóa kênh huy động vốn thay vì tập trung vào kênh tín dụng ngân hàng.

Bản thân ngành ngân hàng có dư địa cấp vốn dài hạn thấp khi mà ngân hàng chịu áp lực về khả năng cấp tín dụng dài hạn, quy định về hạn mức an toàn và đặc biệt là bộ đệm vốn còn quá mỏng.

Ngoài ra, các chính sách mới về trái phiếu doanh nghiệp và các quy định liên quan đến việc giúp các dự án và doanh nghiệp đủ điều kiện phát hành trái phiếu ví dụ như vấn đề pháp lý dự án hạ tầng, bất động sản tăng lên.

Vấn đề quy định mục đích sử dụng vốn cho trái phiếu riêng lẻ cũng dự kiến sẽ rõ ràng hơn trong dự thảo sửa đổi Nghị định về trái phiếu riêng lẻ đang được thực hiện.

Bên cạnh đó, cơ sở nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp hiện cũng đang được mở rộng qua việc nới lỏng các điều kiện cho các quỹ đầu tư, công ty chứng khoán cũng như việc cải thiện chính sách cho mô hình quỹ hưu trí tự nguyện phát triển, hình thành các mô hình quỹ mới như quỹ bảo lãnh trái phiếu, quỹ hạ tầng…

Hạ tầng về giao dịch, thông tin tập trung quản lý cơ sở nhà đầu tư đã được thực hiện và tập trung, minh bạch thông tin tài chính, xếp hạng tín nhiệm đã được áp dụng, thông tin về định giá trái phiếu... đã phần nào sẵn có hơn. 

Để trái phiếu thực sự trở thành kênh huy động vốn hiệu quả cho khu vực sản xuất, các chuyên gia FiinGroup cần đồng bộ ba trụ cột: Mở rộng cơ sở nhà đầu tư, cải thiện cơ sở hàng hóa, và hoàn thiện thể chế cùng hạ tầng thị trường.

Cụ thể, về cải thiện hàng hóa, cần khuyến khích doanh nghiệp tín nhiệm tốt tham gia phát hành, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất có hồ sơ tín nhiệm tốt, quản trị minh bạch chủ động tiếp cận thị trường vốn, thông qua phát hành đại chúng. Sự hiện diện của các tổ chức phát hành chất lượng cao sẽ cải thiện cơ cấu hàng hóa, tạo đường cong lãi suất tham chiếu cho từng ngành, giúp giải quyết bài toán chi phí vốn một cách hiệu quả.

Về mở rộng cơ sở nhà đầu tư trong nước và quốc tế: Thị trường hiện phụ thuộc lớn vào ngân hàng thương mại vừa là tổ chức phát hành vừa là người mua chính - thu hẹp dư địa thị trường và rủi ro tập trung. Do đó, cần phát triển, tạo cơ chế để các quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí tự nguyện, bảo hiểm xã hội, quỹ đầu tư trái phiếu đẩy mạnh đầu tư trái phiếu doanh nghiệp phi tài chính và thu hút dòng vốn ngoại thông qua nâng hạng thị trường. Khi cơ sở nhà đầu tư đa dạng, doanh nghiệp sản xuất mới có "người mua" thực sự cho trái phiếu của mình.

Về hoàn thiện thể chế và hạ tầng thị trường: đây là nền tảng bắt buộc để thị trường chuyển đổi đi vào chiều sâu, vận hành có hệ thống và tuân thủ. Cần đồng bộ các công cụ và hạ tầng còn thiếu: cơ chế tạo lập thị trường để cải thiện thanh khoản, hoạt động định giá trái phiếu được chuẩn hóa, và rút ngắn thời gian xử lý khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán. 

Tin liên quan
Tin khác