| Mô hình dịch vụ quản lý tài sản tại Việt Nam hiện chủ yếu dựa vào ngân hàng bán lẻ, thay vì công ty quản lý tài sản chuyên biệt |
Mỏ vàng đang bị bỏ lỡ
Theo dự đoán của Knight Frank, trong vòng 5 năm tới, Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có độ tăng trưởng của giới siêu giàu nhanh nhất thế giới (tăng 59%). Trong khi đó, "Báo cáo Tài sản toàn cầu 2026" do Boston Consulting Group (BCG) vừa công bố cũng cho rằng, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng tài sản tài chính của người giàu trên 9% mỗi năm, thuộc nhóm cao trong 20 thị trường mới nổi hàng đầu.
Dù đánh giá rất cao mức độ tăng trưởng và tiềm năng thị trường tài sản Việt Nam, song các chuyên gia lại cho rằng, thị trường quản lý tài sản Việt Nam vẫn có độ trưởng thành rất thấp. Danh mục sản phẩm đầu tư hạn chế, ít nhà cung cấp và mô hình dịch vụ chủ yếu dựa vào ngân hàng bán lẻ, thay vì quản lý tài sản chuyên biệt.
BCG đưa ra ví dụ, một giám đốc logistics ở TP.HCM sở hữu tài sản khoảng nửa triệu USD (hơn 13 tỷ đồng), thậm chí nhiều hơn, song phần lớn số tiền này vẫn đang nằm im trong tài khoản tiền gửi ngân hàng, hưởng lãi suất thấp và gần như không được đầu tư vào bất kỳ kênh sinh lời chuyên sâu nào.
“Họ đang mỏi mắt tìm kiếm một tổ chức có thể giúp họ quản lý khối tài sản này một cách bài bản, nhưng chưa thấy”, BCG nhận định.
Theo BCG, nhóm người sở hữu từ 250.000 USD đến 5 triệu USD ở các thị trường mới nổi như Việt Nam tăng trưởng nhanh và đây là nhóm đối tượng khách hàng rất tiềm năng với thị trường quản lý tài sản nội địa. Lý do là nhóm khách hàng này chưa được các công ty quản lý tài sản quốc tế “nhòm ngó” tới.
Dù vậy, theo giới phân tích, tại Việt Nam, các đơn vị quản lý tài sản - lớn nhất là ngân hàng, chưa theo kịp nhu cầu của khách hàng và đang bỏ lỡ “mỏ vàng” này.
Những năm gần đây, nhiều ngân hàng Việt chạy đua phát triển dịch vụ cho khách VIP. Dù vậy, theo BCG, các ngân hàng nội địa tại Việt Nam mới chỉ phục vụ đối tượng này các dịch vụ đặc quyền mang tính phong cách sống (lifestyle) chứ chưa có năng lực tư vấn quản lý, phân bổ tài sản theo chuẩn quốc tế.
Đây cũng là lý do khiến người giàu mới nổi tại Việt Nam có xu hướng tự đầu tư, chủ yếu rót tiền vào bất động sản, tiền gửi tiết kiệm. Một số khách hàng tự đầu tư chứng khoán theo phong trào mà không thông qua dịch vụ tư vấn của ngân hàng hay các đơn vị tư vấn quản lý tài sản khác.
BCG định vị thị trường quản lý tài sản Việt Nam là “Tăng trưởng cao nhưng độ trưởng thành thấp”. Lý do là Việt Nam có khối lượng tài sản đang phình to rất nhanh, nhưng hệ thống sản phẩm tài chính, khung pháp lý cho quản lý gia sản và năng lực tư vấn của các tổ chức nội địa chưa phát triển tương xứng để hấp thụ và tối ưu hóa khối tài sản đó.
Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, chuyên gia kinh tế, nguyên nhân khiến thị trường quản lý gia sản Việt Nam chưa xứng với tiềm năng là do sản phẩm chưa đa dạng, hành lang pháp lý chưa đồng bộ, các đơn vị quản lý tài sản chưa tạo được niềm tin với nhà đầu tư, chất lượng đội ngũ tư vấn quản lý gia sản chưa cao… Muốn thị trường quản lý gia sản phát triển, thì các trung gian, các nhà tư vấn chuyên nghiệp phải phát triển vững chắc và ổn định, khi đó mới tạo được niềm tin cho nhà đầu tư.
Cơ hội cho nhà băng Việt chuyển từ “chăm sóc khách hàng ưu tiên” sang quản lý gia sản số
Tại thị trường Việt Nam hiện nay, các tổ chức quản lý gia sản chính là ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty bảo hiểm, fintech… Trong đó, ngân hàng đang là đơn vị quản lý gia sản lớn nhất nhờ uy tín, mạng lưới rộng lớn và sản phẩm đa dạng.
Mỗi khách hàng đến ngân hàng đều được phân luồng thành các nhóm khác nhau. Dù nhóm khách hàng giàu có chỉ chiếm dưới 10% tổng số lượng khách hàng của một ngân hàng, nhưng lại đóng góp từ 40% đến 50% tổng lượng tiền gửi.
Với các khách hàng VIP, ngân hàng cung cấp dịch vụ quản lý gia sản, giúp khách hàng được tự do, không phải mất nhiều thời gian để nghiên cứu các kênh đầu tư, các lớp tài sản, phân bổ vốn đầu tư.
Theo BCG, ngân hàng Việt đang nắm giữ 2/3 tổng lượng tiền gửi toàn thị trường, có độ phủ thương hiệu mạnh và có sẵn mối quan hệ sâu sắc với chính tệp khách hàng giàu có này. Chính vì vậy, ngân hàng gần như “độc chiếm” thị trường quản lý tài sản ở Việt Nam.
Mặc dù phần lớn khách hàng giàu có đều đang “nằm trong tay” các ngân hàng, song nhiều chuyên gia cho rằng, các ngân hàng Việt vẫn chủ yếu bán sản phẩm sẵn có cho người giàu (bảo hiểm, trái phiếu, chứng chỉ quỹ…) mà chưa có dịch vụ quản lý tài sản đúng nghĩa. Chính điều này kết hợp với những lùm xùm liên quan đến trái phiếu, bảo hiểm thời gian qua đã ảnh hưởng đến niềm tin của khách hàng.
Ông Bùi Văn Huy - Giám đốc khối nghiên cứu đầu tư FIDT cho rằng, các ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, thậm chí công ty quản lý quỹ ở Việt Nam hiện nay chưa thể coi là công ty quản lý gia sản, vì vẫn chỉ bán sản phẩm của công ty mình. Gần đây, một số đơn vị tư vấn tài sản đã xuất hiện tại Việt Nam, song vẫn khá sơ khai, chủ yếu kiếm doanh thu từ hoa hồng phân phối sản phẩm chứ chưa thực sự sống bằng phí tư vấn.
Theo ông Huy, sở dĩ các định chế tài chính lớn, dù có vốn, có khách hàng, có thương hiệu, nhưng vẫn chưa thể chạm tới mô hình quản lý tài sản đúng nghĩa là do một số rào cản như: tính độc lập (lợi ích của ngân hàng, công ty mẹ), đội ngũ tư vấn còn yếu, thiếu; lợi nhuận đến chậm, biên lợi nhuận thấp trong giai đoạn đầu…
Theo khuyến nghị của BCG, các ngân hàng Việt Nam cần chuyển dịch từ mô hình "chăm sóc khách hàng ưu tiên" sang "quản lý gia sản số". Nếu làm được điều này, tăng trưởng doanh thu từ phí dịch vụ có thể lên tới hơn 50% trong vòng 5 năm tới.
Dù vậy, có một thực tế là các ông chủ nhà băng Việt thường không muốn dấn thân vào một sân chơi đòi hỏi đầu tư dài hạn và có tốc độ sinh lời chậm như quản lý gia sản, thay vào đó, họ chỉ muốn bán nhiều nhất các sản phẩm của mình. Đây sẽ là khoảng trống khó lấp đầy của thị trường trong một thời gian khá dài thời gian tới.
- TS. Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam
Thị trường tài sản Việt Nam tăng rất nhanh, song dịch vụ quản lý tài sản vẫn chưa phát triển tương xứng và chưa theo kịp nhu cầu tại Việt Nam.
Nguyên nhân thứ nhất là do khách hàng còn thiếu niềm tin vào các tổ chức tài chính. Họ nghi ngờ việc các tổ chức tài chính thực sự quan tâm và đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu.
Thứ hai, bản thân các đơn vị cung cấp dịch vụ quản lý tài sản vẫn chưa đưa ra được các sản phẩm hấp dẫn cho thị trường, nhân lực hoạt động tư vấn tài chính tại Việt Nam hiện nay vừa thiếu lại vừa yếu. Bên cạnh đó, khung pháp lý các dịch vụ về quản lý tài sản vẫn chưa được hoàn thiện. Để thị trường này phát triển, sân chơi cần được cung cấp nhiều công cụ và luật chơi hơn nữa để hình thành sự chuyên nghiệp, chuyên biệt và chuẩn hóa.