Nghị định số 335/2026/NĐ-CP đồng thời sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Nghị định số 176/2025/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về trợ cấp hưu trí xã hội.
Theo quy định mới, mức trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng được xác định là 540.000 đồng và áp dụng từ ngày 1/7.
Nhóm thứ nhất thuộc diện hưởng chính sách là công dân Việt Nam từ đủ 75 tuổi trở lên, không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng. Người đang hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng nhưng mức hưởng thấp hơn 540.000 đồng cũng thuộc phạm vi áp dụng theo quy định.
Nhóm thứ hai là công dân Việt Nam từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, đồng thời không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng. Những trường hợp đủ điều kiện được hưởng mức trợ cấp hưu trí xã hội 540.000 đồng/tháng kể từ ngày 1/7.
| Nhóm người cao tuổi không có lương hưu hoặc có mức hưởng bảo hiểm xã hội thấp tiếp tục được bổ sung cơ chế bảo đảm thu nhập hằng tháng. |
So với quy định trước, mức chuẩn trợ giúp xã hội tăng thêm 40.000 đồng/tháng. Đây cũng là căn cứ để xác định mức trợ cấp hưu trí xã hội đối với các nhóm đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Nghị định mới cũng quy định cụ thể trình tự, thủ tục giải quyết trợ cấp hưu trí xã hội, theo hướng người dân có thể lựa chọn nhiều phương thức nộp hồ sơ. Người thuộc hai nhóm nêu trên hoặc người giám hộ có thể lập tờ khai đề nghị trợ cấp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội theo Mẫu số 01 tại phụ lục ban hành kèm Nghị định quy định chính sách trợ giúp xã hội.
Hồ sơ có thể được gửi trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, qua dịch vụ bưu chính hoặc nộp trực tiếp tại bất kỳ Bộ phận một cửa.
Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ, Chủ tịch UBND cấp xã nơi người đề nghị cư trú có trách nhiệm tổ chức xác thực các thông tin liên quan.
Thông tin của người đề nghị được đối chiếu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành dùng chung. Sau quá trình xác thực, thẩm định, Chủ tịch UBND cấp xã xem xét và quyết định trợ cấp hưu trí xã hội theo thẩm quyền.
Thời điểm hưởng trợ cấp được tính từ tháng Chủ tịch UBND cấp xã ký quyết định. Sau đó, cơ quan chức năng tổ chức chi trả chế độ, chính sách cho người hưởng theo quy định pháp luật. Nếu người đề nghị không đáp ứng đủ điều kiện hưởng trợ cấp, Chủ tịch UBND cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Quy định mới cũng hướng dẫn cách giải quyết khi người đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội thay đổi nơi cư trú. Theo đó, nếu người hưởng đề nghị tiếp tục nhận chế độ tại nơi ở mới, Chủ tịch UBND cấp xã nơi cư trú cũ quyết định dừng chi trả tại địa bàn, đồng thời chuyển văn bản cùng hồ sơ của người hưởng tới Chủ tịch UBND cấp xã nơi cư trú mới.
Căn cứ hồ sơ được chuyển đến, Chủ tịch UBND cấp xã nơi cư trú mới quyết định tiếp tục trợ cấp hưu trí xã hội theo mức tương ứng áp dụng tại địa bàn. Thời điểm hưởng tại nơi mới được tính từ tháng dừng chi trả tại nơi cư trú cũ, qua đó bảo đảm quyền lợi của người hưởng không bị gián đoạn khi thay đổi nơi sinh sống.
Đối với trường hợp người đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội qua đời hoặc không còn đáp ứng các điều kiện theo quy định, Chủ tịch UBND cấp xã quyết định chấm dứt hưởng trợ cấp.
Thời điểm thôi hưởng được tính từ tháng liền kề sau tháng người hưởng qua đời hoặc không còn đủ điều kiện nhận trợ cấp hưu trí xã hội.
Với quy định mới, nhóm người cao tuổi không có lương hưu hoặc có mức hưởng bảo hiểm xã hội thấp tiếp tục được bổ sung cơ chế bảo đảm thu nhập hằng tháng, đồng thời thủ tục giải quyết được gắn với dữ liệu dân cư và cơ chế một cửa để thuận lợi hơn trong quá trình thực hiện.