Hàng trăm thủ tục hành chính, hàng ngàn điều kiện kinh doanh được cắt giảm, bãi bỏ hoặc thay thế bằng phương thức quản lý mới, chỉ là phần dễ nhìn thấy của đợt rà soát, sửa đổi hệ thống pháp luật nhằm thể chế hóa các nghị quyết của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh.
Phía sau mỗi điều luật là những cuộc tranh luận, giằng co, thậm chí va đập về tư duy quản lý nhà nước, về mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp, giữa yêu cầu quản lý và đòi hỏi của thực tiễn phát triển.
Bài 2: Đối thoại trong từng câu chữ
Khi mỗi quy định được lý giải bằng tác động đối với môi trường đầu tư, kinh doanh và chi phí tuân thủ, khoảng cách giữa văn bản và thực thi sẽ chuyển động tích cực.
Những bộ hồ sơ cất tiếng
Hồ sơ các dự án luật sửa đổi nhằm thể chế hóa nội dung nhóm nghị quyết mang số 66 của Chính phủ gửi lấy ý kiến doanh nghiệp nhiều “thành phần” hơn hẳn những năm trước. Không chỉ có dự thảo luật và tờ trình của cơ quan soạn thảo như thường lệ, doanh nghiệp còn nhận được báo cáo thẩm định của Bộ Tư pháp, phần tiếp thu, giải trình của các bộ, ngành... - những tài liệu vốn thường lưu chuyển nội bộ các cơ quan nhà nước trong quá trình xây dựng pháp luật.
“Chúng tôi rất mừng khi nhận được cả dự thảo Nghị định, thông tư, đã thấy một số kiến nghị của chúng tôi được lắng nghe, tiếp thu”, TS. Ninh Thị Len, Phó chủ tịch Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam chia sẻ một cách hào hứng.
Bản góp ý mới của Hiệp hội vì thế rộng hơn, phủ từ các điều khoản trong dự thảo luật đến các văn bản hướng dẫn, từ cảnh báo nguy cơ chồng chéo giữa luật chuyên ngành và một số văn bản luật khác đến dự báo vướng mắc khi thực thi…
- Ông Phạm Ngọc Thạch
Điều bà Len nhấn mạnh cũng là điểm chung nổi lên trong kiến nghị nhiều doanh nghiệp, hiệp hội. Hầu hết ý kiến không chỉ dừng ở đề xuất sửa đổi một vài điều khoản cụ thể, mà xoay quanh đúng các câu hỏi mà các cơ quan soạn thảo đang tranh luận để trả lời: làm thế nào để cắt giảm thủ tục hành chính, giảm điều kiện đầu tư - kinh doanh và giảm chi phí tuân thủ.
Không phải ngẫu nhiên, các văn bản “đi lại” giữa các bộ, ngành trong hồ sơ dự án luật được quan tâm đến vậy.
Hơn một năm trở lại đây, tốc độ và quy mô xây dựng pháp luật của Việt Nam đạt mức kỷ lục. Tính riêng năm 2025, Quốc hội đã thông qua 89 đạo luật, mức cao nhất trong lịch sử lập pháp gần đây, gấp gần 3 lần năm 2024 và 5 lần mức trung bình của giai đoạn trước. Tốc độ soạn thảo cũng được rút ngắn đáng kể, trung bình còn khoảng 221 ngày, theo khảo sát của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI). Nhiều luật khởi động trong năm 2025 chỉ mất hơn 4 tháng, thậm chí có luật mất 2 tháng hoàn thiện theo quy trình rút gọn.
Quy trình xây dựng luật pháp mới đã đưa nhanh các chính sách tháo gỡ khó khăn, cơ chế đột phá vào thực tiễn. Tuy nhiên, cơ hội doanh nghiệp tiếp cận, tham gia góp ý văn bản luật hẹp hơn.
Chính vì vậy, việc tiếp cận bộ hồ sơ dự án luật đầy đủ đã cho doanh nghiệp hình dung, thậm chí cảm nhận khá rõ nét “không khí đối thoại” trong nội bộ các cơ quan nhà nước, từ nội dung được đề xuất sửa đổi, những điểm còn băn khoăn của cơ quan soạn thảo, những phản biện của cơ quan thẩm định và cả lý do vì sao một quy định được giữ lại hay phải rút khỏi dự thảo.
Những điều khoản không còn xuất hiện trong phiên bản dự thảo cập nhật có lẽ là minh chứng rõ nhất cho những chuyển động này.
Trong bản giải trình của nhiều ban soạn thảo, có quy định được rút vì chưa đánh giá đầy đủ tác động. Có quy định phải bỏ vì có nguy cơ làm phát sinh thêm thủ tục hành chính hoặc nghĩa vụ hành chính ngoài phương án cải cách đã được Chính phủ phê duyệt. Có nội dung được điều chỉnh để đảm bảo tính khả thi…
Thậm chí, có trường hợp phải dừng vì bị lưu ý "luật hóa" thủ tục ở văn bản dưới luật, nhưng chưa chứng minh được sự cần thiết…
“Chúng tôi cảm nhận được khoảng cách giữa logic pháp lý và logic thực tiễn đang thu hẹp dần qua bộ lọc mới”, ông Phạm Ngọc Thạch, Phó trưởng ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nhận định.
Sự va chạm giữa “logic pháp lý” và “logic thực tiễn”
Cách đặt vấn đề của ông Phạm Ngọc Thạch có lý do.
Trong Báo cáo Tổng hợp khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp mà VCCI gửi Thủ tướng Chính phủ đầu tháng 7 vừa qua, tỷ lệ khó khăn do quy định chưa rõ ràng, không khả thi chiếm tới 51,45% trong tổng số 879 phản ánh cụ thể từ doanh nghiệp. Số khó khăn do tăng chi phí tuân thủ lên tới 36,7%; do quy định mâu thuẫn, chồng chéo là 11,8%...
“Đây là kết quả thu thập ý kiến vừa kết thúc vào cuối tháng 6. Đặc biệt, đã có vướng mắc xuất hiện trong cả văn bản mới được ban hành”, ông Thạch thông tin.
Mỗi phản ánh của là một câu chuyện thực tiễn. Như khoảng trống pháp lý do cơ quan soạn thảo bãi bỏ văn bản cũ, nhưng chưa kịp thời ban hành văn bản thay thế khiến cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý không có căn cứ thực hiện. Hay là thực hiện chuyển đổi số, nhưng vẫn phải nộp hồ sơ bản giấy để đối chiếu. Cụ thể hơn, mức ký quỹ nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất giấy quá cao, lên tới 18-20% giá trị lô hàng…
Bản thân những con số, câu chuyện từ doanh nghiệp đã nói lên rất nhiều điều, nhất là nhu cầu được lắng nghe, được giải quyết của cộng đồng doanh nghiệp rất lớn, nhưng ông Thạch nói, vấn đề là những gì doanh nghiệp nhận được sau khi các vướng mắc được gửi đi.
Cũng phải nhắc lại, cuối năm 2025, trong đợt “tổng kiểm kê” các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng và cả chính quyền địa phương, đã có 2.088 ý kiến, phản ánh được gửi về Bộ Tư pháp. Các ý kiến phủ khắp các lĩnh vực, từ đất đai, xây dựng, tài chính, công thương cho đến y tế, giáo dục, khoa học công nghệ.
Tuy nhiên, sau khi rà soát, chỉ có 787 phản ánh được ghi nhận là khó khăn, vướng mắc cần xử lý. Số còn lại được xếp vào nhóm “không phải vướng mắc”.
Khi đó, ông Thạch kể, VCCI đã quyết định phân tích sâu vào cách từng bộ, ngành đánh giá, để xem hơn 1.300 phản ánh thực sự không vướng hay phản ánh một thực tế mà hệ thống chưa sẵn sàng thừa nhận. Kết quả nhận được rất đáng lưu tâm.
Phần lớn các bộ chỉ công nhận chưa đến 50% số phản ánh trong lĩnh vực mình quản lý là vướng mắc thực sự. Một số bộ có tỷ lệ công nhận tương đối cao, cầu thị trong tiếp nhận ý kiến; nhưng ngược lại, có cơ quan không chấp nhận bất cứ ý kiến kêu vướng mắc nào của doanh nghiệp…
Sự chênh lệch này, theo nhận định của VCCI, có nhiều khả năng: mức độ vướng mắc thực sự khác nhau giữa các lĩnh vực; độ trơn tru trong vận hành quy định của các ngành khác nhau… Song điểm chung đáng lưu ý nổi lên là tiêu chí xác định vướng mắc không thống nhất giữa các bộ, ngành. Đã có tình trạng cùng một tính chất phản ánh, nhưng bộ này coi là vướng, bộ khác thì không.
Nếu tách riêng các góc nhìn, các lựa chọn có thể đều hợp lý. Phía cơ quan soạn thảo sẽ đánh giá quy định dựa trên “logic nội tại” của văn bản: điều khoản có mâu thuẫn không, quy trình có đầy đủ không. Phía doanh nghiệp, chính quyền địa phương thì nhìn nhận từ “logic thực tiễn”: có thực thi được không.
Nhưng nếu khoảng cách giữa các khái niệm này không được thu hẹp, thì ngay cả khi 1.300 phản ánh đã được để sang một bên, vướng mắc của doanh nghiệp không tự biến mất.
“Dù nguyên nhân là gì, thì thực tế vẫn là doanh nghiệp và chính quyền địa phương thực sự gặp khó, cần được gỡ”, ông Thạch phân tích về khái niệm “logic pháp lý” và “logic thực tiễn” đã dùng.
Bộ lọc từ thực tiễn
Trở lại bản giải trình của các ban soạn thảo về những nội dung không phù hợp, phải loại bỏ khỏi bản dự thảo cuối cùng. Đây thực ra là phần trả lời cho hàng loạt câu hỏi mà Hội đồng thẩm định, Bộ Tư pháp đặt ra cho các cơ quan chủ trì soạn thảo. Có thể kể tới yêu cầu làm rõ nội hàm, mục đích việc sửa đổi các quy định; có hay không tồn tại cách hiểu làm phát sinh thủ tục hành chính, nghĩa vụ hành chính hoặc có tiềm ẩn các bộ phận cấu thành thủ tục hành chính mới không, có tạo thêm gánh nặng cho hoạt động kinh doanh không…
Trước đây, nội dung thẩm định của Bộ Tư pháp chủ yếu ở tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất cũng như đánh giá thể thức, kỹ thuật, việc tuân thủ trình tự, thủ tục soạn thảo của văn bản. Nhưng kể từ tháng 4/2026, thời điểm phải hoàn tất thủ tục trình Chính phủ các nghị quyết của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh trong các ngành, lĩnh vực, bà Thái Thị Hải Yến, Phó Cục trưởng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính (Bộ Tư pháp) cho biết, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Bộ Tư pháp phải có ý kiến độc lập. Đặc biệt, phần nhiệm vụ này không chỉ dừng trong giai đoạn xây dựng văn bản. “Chúng tôi được giao nhiệm vụ đánh giá từng phương án, trả lời được câu hỏi các bộ, ngành có cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thực chất không, có dấu hiệu hình thức không, thực thi có hiệu quả không”, bà Yến nói.
Đây cũng là lý do doanh nghiệp nhìn nhận những nỗ lực hoàn thiện thể chế pháp luật, cải thiện môi trường kinh doanh lần này với kỳ vọng khác trước. Điều họ chờ đợi không chỉ là số lượng thủ tục hành chính được cắt giảm hay điều kiện đầu tư kinh doanh được bãi bỏ. Quan trọng hơn, những câu hỏi mà doanh nghiệp đã đặt ra nhiều năm qua đang dần trở thành “bộ lọc tư duy” mà cơ quan xây dựng pháp luật phải vượt qua.
Đó chính là chuyển động đáng chú ý phía sau từng bộ hồ sơ dự án luật, cũng là tín hiệu cho thấy những chuyển động sâu hơn đang diễn ra trong tư duy quản lý nhà nước.
(Còn tiếp)