Kinh doanh
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Gỡ điểm nghẽn thể chế, nâng sức cạnh tranh nông nghiệp Việt
Hoài Sương - 08/05/2026 18:07
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, logistics và thị trường nhằm nâng năng lực cạnh tranh, thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản bền vững.

Áp lực bủa vây doanh nghiệp xuất khẩu

Ngày 8/5, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản đảm bảo mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu năm 2026 nhằm hướng tới mục tiêu kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt trên 73 tỷ USD.

Hội nghị có sự tham dự của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng cùng các hiệp hội, doanh nghiệp ngành hàng.

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng phát biểu tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản đảm bảo mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu năm 2026.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 4 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 23,04 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, rau quả đạt khoảng 2,05 tỷ USD, tăng 21,6%; thủy sản đạt 3,54 tỷ USD, tăng 10,4%. Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất của nông sản Việt Nam khi chiếm hơn 21% tổng kim ngạch và tăng trưởng gần 29%.

Dù vậy, phía sau những con số tăng trưởng vẫn là nhiều sức ép ngày càng hiện hữu đối với cộng đồng doanh nghiệp xuất khẩu. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đánh giá, tăng trưởng hiện chưa đồng đều giữa các ngành hàng, trong khi mức độ phụ thuộc vào một số thị trường chủ lực vẫn lớn, khiến doanh nghiệp dễ bị tổn thương khi chính sách nhập khẩu thay đổi.

Đáng chú ý, các tiêu chuẩn mới về phát thải xanh, truy xuất nguồn gốc, dư lượng hóa chất, chống khai thác bất hợp pháp (IUU) hay minh bạch chuỗi cung ứng đang trở thành “hàng rào kỹ thuật” bắt buộc tại nhiều thị trường lớn. 

Cùng với đó là áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt từ Thái Lan, Ấn Độ, Brazil hay Indonesia, trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng toàn cầu có dấu hiệu chững lại.

Bức tranh xuất khẩu 4 tháng đầu năm cũng cho thấy sự phân hóa rõ nét giữa các ngành hàng. Rau quả tiếp tục là điểm sáng khi đạt gần 2,06 tỷ USD, tăng khoảng 22% so với cùng kỳ, trong đó riêng thị trường Trung Quốc chiếm hơn một nửa kim ngạch với trên 1 tỷ USD.

Theo doanh nghiệp ngành rau quả, việc ký kết thêm các Nghị định thư xuất khẩu đối với bưởi và chanh đã mở thêm dư địa cho hàng Việt vào Trung Quốc. Tuy nhiên, cơ hội mở rộng thị trường cũng đi kèm yêu cầu ngày càng khắt khe về chất lượng và an toàn thực phẩm.

Ông Nguyễn Đình Tùng, Phó chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit) cho biết, nhiều lô hàng rau quả Việt Nam thời gian qua vẫn vi phạm quy định về an toàn thực phẩm tại các thị trường lớn như châu Âu, Nhật Bản và Trung Quốc.

Đơn cử với mặt hàng sầu riêng, nhiều địa phương hiện chưa được cấp đủ mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu. Điều này khiến không ít nông dân dù có sản phẩm đạt tiêu chuẩn vẫn khó tham gia chuỗi xuất khẩu chính ngạch.

Không chỉ đối mặt với rào cản kỹ thuật, doanh nghiệp còn chịu áp lực lớn từ khâu kiểm nghiệm và logistics. Vào mùa cao điểm, nhu cầu lấy mẫu tăng mạnh trong khi năng lực các cơ sở kiểm nghiệm còn hạn chế, dẫn tới nguy cơ ùn ứ hàng hóa.

“Chi phí logistics hiện tăng rất mạnh. Cước vận tải biển cao gấp 2 - 3 lần so với giai đoạn 2024 - 2025 do ảnh hưởng từ bất ổn địa chính trị toàn cầu, trong khi rau quả là nhóm hàng yêu cầu bảo quản cao nên áp lực chi phí càng lớn”, ông Tùng nói.

Ở nhóm lúa gạo, áp lực thị trường cũng đang bộc lộ rõ hơn dù sản lượng xuất khẩu vẫn duy trì ở mức cao. Ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho biết, trong 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 3,33 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch khoảng 1,5 tỷ USD. Philippines tiếp tục là khách hàng lớn nhất với khoảng 1,5 triệu tấn.

Tuy nhiên, giá gạo xuất khẩu bình quân chỉ còn khoảng 468 USD/tấn, giảm gần 10% so với mức bình quân năm 2025 và xuống mức thấp nhất trong khoảng 5 năm qua.

Theo ông Nam, nguyên nhân chủ yếu đến từ tâm lý thị trường. Chỉ cần xuất hiện thông tin Philippines giảm nhập khẩu, nhiều doanh nghiệp lập tức bán ra ồ ạt để giữ thị phần và giải phóng tồn kho, kéo giá giảm sâu.

“Điểm yếu lớn nhất của ngành lúa gạo hiện nay là người nông dân chưa có khả năng điều tiết thị trường và chưa chủ động được thời điểm bán hàng”, ông Nam nhận định.

Trong bối cảnh thị trường toàn cầu biến động nhanh, áp lực chi phí gia tăng và các tiêu chuẩn nhập khẩu ngày càng siết chặt, bài toán đặt ra không chỉ là duy trì tăng trưởng xuất khẩu, mà còn là nâng chất lượng tăng trưởng, giảm phụ thuộc thị trường và gia tăng sức chống chịu cho toàn chuỗi ngành hàng.

Phía sau những con số tăng trưởng là nhiều sức ép ngày càng hiện hữu đối với cộng đồng doanh nghiệp xuất khẩu. 

Tái cấu trúc chuỗi giá trị để giữ đà tăng trưởng xuất khẩu

Trước những áp lực ngày càng lớn từ thị trường quốc tế, Chính phủ và các bộ, ngành cho rằng xuất khẩu nông lâm thủy sản không thể tiếp tục phát triển theo mô hình tăng trưởng dựa vào sản lượng và xuất khẩu thô như trước đây.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng cho rằng, để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng và xuất khẩu năm 2026, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, địa phương, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp.

Theo Bộ trưởng, Nhà nước cần tiếp tục đóng vai trò kiến tạo thông qua hoàn thiện cơ chế chính sách, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất, kết nối thị trường, nâng cao năng lực chế biến cũng như sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh, mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trên 74 tỷ USD trong năm 2026 là không thay đổi và phải quyết tâm thực hiện bằng được mục tiêu này. Trong đó, về những giải pháp cấp bách để khơi thông xuất khẩu nông lâm thủy sản trong năm 2026, những thủ tục nào có thể cắt giảm ngay được thì phải thực hiện ngay việc cắt giảm.

Theo Phó Thủ tướng, năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trong giai đoạn mới sẽ không còn được quyết định bởi sản lượng xuất khẩu, mà nằm ở chất lượng, khả năng truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường và giá trị gia tăng của sản phẩm.

“Phát triển xuất khẩu nông, lâm, thủy sản không chỉ là nhiệm vụ thương mại đơn thuần mà phải được tiếp cận theo hướng tái cấu trúc toàn diện chuỗi giá trị ngành hàng, từ sản xuất, chế biến, logistics, tiêu chuẩn chất lượng đến phát triển thị trường và xây dựng thương hiệu quốc gia cho nông sản Việt Nam”, Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

Theo đánh giá của Chính phủ, các quy định mới như chống phá rừng của EU (EUDR), chống khai thác IUU, tiêu chuẩn phát thải carbon hay yêu cầu minh bạch chuỗi cung ứng đang trở thành “vé thông hành bắt buộc” nếu nông sản Việt muốn duy trì vị thế tại các thị trường lớn.

Từ thực tế đó, Chính phủ yêu cầu đẩy nhanh phát triển các vùng nguyên liệu lớn, ổn định và đạt chuẩn nhằm bảo đảm nguồn cung bền vững cho chế biến và xuất khẩu. Liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp cũng cần được củng cố theo chuỗi giá trị thay vì sản xuất manh mún như hiện nay.

Một trong những định hướng trọng tâm là nâng tỷ trọng chế biến sâu để giảm phụ thuộc vào xuất khẩu nguyên liệu thô, đồng thời gia tăng giá trị gia tăng cho nông sản Việt Nam.

Các địa phương được giao quản lý chặt mã số vùng trồng, vùng nuôi; kiểm soát vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng được yêu cầu sớm xây dựng cơ sở dữ liệu số về vùng nguyên liệu, sản lượng và mùa vụ nhằm phục vụ điều hành và kết nối cung cầu.

Trước áp lực logistics leo thang do xung đột tại Trung Đông, Chính phủ yêu cầu xây dựng cơ chế cảnh báo sớm, hỗ trợ doanh nghiệp xử lý khó khăn liên quan đến thanh toán, lưu kho, bảo quản và vận chuyển hàng hóa.

Bên cạnh việc giữ vững các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Mỹ, EU và Nhật Bản, Chính phủ cũng yêu cầu mở rộng mạnh sang ASEAN, Nam Á, Trung Đông, châu Phi, châu Mỹ Latinh và thị trường Halal nhằm giảm rủi ro phụ thuộc vào một số thị trường chủ lực.

Theo Phó Thủ tướng, đa dạng hóa thị trường không còn là lựa chọn mang tính dài hạn mà đã trở thành yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh chính sách thương mại toàn cầu thay đổi nhanh chóng.

Song song đó, các bộ, ngành cần tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA), đẩy mạnh xúc tiến thương mại gắn với mở cửa thị trường, kết nối chuỗi phân phối quốc tế và phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới, tạo thêm dư địa tăng trưởng cho xuất khẩu nông sản trong giai đoạn tới.

Tin liên quan
Tin khác