Hiện lãi suất trên thế giới duy trì ở mức cao trong bối cảnh áp lực lạm phát và chi phí năng lượng tăng. Ở thị trường trong nước, mặt bằng lãi suất đã tăng trở lại từ cuối năm 2025 sau 2 năm duy trì ở mức thấp. Lãi suất huy động kỳ hạn 6-12 tháng tại các ngân hàng thương mại đã tăng trung bình 2-2,5 điểm % so với đầu năm, trong khi lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm đã lên khoảng 4,5%, tiệm cận vùng trước dịch Covid-19.
Trong bối cảnh lãi suất duy trì ở mức cao, mức độ tác động giữa các nhóm ngành và cổ phiếu sẽ có sự khác nhau.
Thống kê tương quan trong quá khứ giữa thị trường chứng khoán Việt Nam và mặt bằng lãi suất (đại diện là lãi suất huy động), nhóm phân tích Chứng khoán Agribank (Agriseco) chia thành 6 giai đoạn chính.
| Nguồn: Agriseco |
Cụ thể, giai đoạn năm 2000 - 2004, lãi suất có xu hướng tăng dần khi kinh tế phục hồi, VN-Index đã tăng từ 100 điểm lên trên 500 điểm năm 2001 rồi giảm về khoảng 130 điểm năm 2003. Quan hệ với lãi suất chưa rõ nét do giai đoạn này thị trường chứng khoán còn sơ khai, số doanh nghiệp niêm yết ít, thanh khoản thấp.
Giai đoạn 2004 - 2007, lãi suất duy trì tương đối ổn định quanh 7–8%/năm trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế cao, thanh khoản dồi dào; dòng vốn FDI, vốn gián tiếp và kiều hối tăng mạnh. VN-Index lúc này tăng mạnh và đạt đỉnh khoảng 1.170 điểm năm 2007. Diễn biến phù hợp với môi trường lãi suất ổn định, nhưng động lực quan trọng hơn đến từ gia nhập WTO, dòng vốn ngoại, tín dụng tăng nhanh, số doanh nghiệp niêm yết và tài khoản nhà đầu tư mở rộng mạnh.
Tới năm 2008 - 2009, lãi suất tăng vọt có lúc lãi suất huy động lên đến vùng rất cao 20%/năm, VN-Index giảm hơn 60% trong nửa đầu 2008. Khi lãi suất giảm mạnh, VN-Index tăng từ vùng 235 điểm lên trên 600 điểm trong năm 2009.
Thời kỳ năm 2010 - 2013, lãi suất tiếp tục neo ở mức cao trong 2010 - 2011, NHNN phải áp dụng trần lãi suất huy động 14%. Đến 2012 – 2013, lạm phát hạ nhiệt và tăng trưởng suy yếu tạo điều kiện để mặt bằng lãi suất từng bước giảm xuống. Chỉ số chứng khoán giai đoạn này giảm về khoảng 350 điểm cuối năm 2011 do chi phí vốn cao, tín dụng bị kiểm soát và bất động sản khó khăn; thị trường phục hồi rõ hơn khi lãi suất bắt đầu giảm từ năm 2013.
Tới 2014 - 2021, lãi suất bước vào chu kỳ giảm kéo dài, đặc biệt xuống vùng thấp giai đoạn 2020–2021, lãi suất huy động giảm xuống vùng thấp lịch sử 4- 5%/năm khi chính sách được nới lỏng để ứng phó với Covid-19. VN-Index lúc này hình thành xu hướng tăng dài hạn và tiến sát 1.500 điểm cuối năm 2021 – đỉnh của giai đoạn này. Lãi suất thấp, lợi nhuận tăng và dòng tiền cá nhân cùng hỗ trợ thị trường.
Từ 2022 đến nay, lãi suất tăng mạnh trong năm 2022 sau đó giảm nhanh trong năm 2023 – nửa đầu 2025. Từ cuối 2025–2026, lãi suất huy động tăng cao trở lại. Phản ứng trong giai đoạn này, VN-Index giảm mạnh hơn 34% từ 1.500 về vùng 1.000 điểm khi lãi suất tăng trong năm 2022, sau đó phục hồi trong 2023 và tăng khoảng 41% trong 2025, lên vùng 1.780 điểm.
Từ cuối 2025–2026, dù lãi suất tăng trở lại, VN-Index nhìn chung đi ngang so với đầu năm; nhịp tăng lên vùng 1.900 điểm đầu năm chủ yếu từ một số cổ phiếu vốn hóa lớn có câu chuyện riêng. Dòng tiền vẫn phân hóa mạnh, trong khi thị trường vẫn được hỗ trợ bởi tăng trưởng lợi nhuận, cải thiện hạ tầng và kỳ vọng nâng hạng.
Agriseco cho biết, xét về tương quan, lãi suất có mối quan hệ ngược chiều tới thị trường chứng khoán. Giai đoạn 2000 – 2021, Hệ số tương quan (theo chuỗi dữ liệu tháng) giữa lãi suất huy động và VN-Index là -0,33 thể hiện hai yếu tố này có mối tương quan ngược chiều. Trong đó, giai đoạn 2006 – 2021 và giai đoạn 2014 – 2021 mối tương quan ngược chiều này ngày càng rõ nét hơn khi hệ số lần lượt đạt mức -0,61 và -0,71.
Ở giai đoạn 2022 tới nay, Hệ số tương quan giữa đạt mức -0,4, cho thấy lãi suất vẫn là biến số quan trọng nhưng diễn biến thị trường chứng khoán ngày càng chịu tác động lớn hơn từ tăng trưởng lợi nhuận, dòng vốn và các yếu tố riêng của thị trường.
Trong môi trường lãi suất tăng, chi phí vốn cao hơn và dòng tiền trên thị trường chứng khoán có xu hướng phân hóa mạnh, Agriseco thận trọng với các doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy lớn, nhu cầu tái cấp vốn cao và có độ nhạy lớn với biến động thị trường do chi phí lãi vay gia tăng có thể gây áp lực lên biên lợi nhuận, dòng tiền và kết quả kinh doanh.
Tác động này thường rõ nét hơn tại các ngành có nhu cầu vốn lớn như xây dựng – hạ tầng, hàng không, thép, ô tô và một số doanh nghiệp bất động sản.
Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn có khả năng chống chịu hoặc hưởng lợi từ môi trường lãi suất tăng cao như các cổ phiếu có lượng tiền mặt và đầu tư tài chính lớn, trạng thái tiền ròng tích cực, nền tảng tài chính lành mạnh, dòng tiền ổn định, mức độ phụ thuộc thấp vào vốn vay và sản phẩm đầu ra ít bị ảnh hưởng bởi mặt bằng lãi suất cao.
Đây là nhóm có khả năng duy trì kết quả kinh doanh tốt hơn tương đối, đồng thời có thể được hỗ trợ thêm từ lợi suất tiền gửi và tài sản tài chính tăng, Agriseco cho biết.