Trên bản đồ hành chính mới của TP.HCM có một chi tiết mà vài năm trước còn khó hình dung. Cảng nước sâu Cái Mép của Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ) và cảng sông Cát Lái nghẽn cứng nhiều năm trong nội thành giờ nằm chung một đường ranh. Cùng đường ranh ấy còn ôm trọn vành đai nhà máy ở Bình Dương (cũ) - một tỉnh từng đi mời gọi đúng dòng vốn nước ngoài mà TP.HCM cũng đang mời. Ba mảnh ghép này nhiều năm cạnh tranh nhau và tính toán trên những ngân sách tách biệt. Từ ngày 1/7/2025, chúng cùng thuộc về một thành phố rộng hơn 6.772 km2 với trên 14 triệu dân.
Từ đây, Thành phố phải biến một vùng đô thị, công nghiệp, cảng biển và tài chính từng vận hành rời rạc thành một hệ thống cạnh tranh thống nhất. Thành phố không lớn lên bằng diện tích, mà lớn lên bằng khả năng làm cho các bộ phận rời rạc của mình ăn khớp, để hàng từ nhà máy ở Bình Dương (cũ) chạy thẳng ra cảng nước sâu mà không vướng 3 lớp thủ tục, để một người lao động đi lại trong vùng như đi lại trong một thị trường việc làm duy nhất.
Câu hỏi của giai đoạn tới sẽ khác đi nhiều: Thành phố lớn hơn này có vận hành được như một hệ thống, hay vẫn chỉ là 3 mảnh ghép cũ nằm cạnh nhau dưới một cái tên chung?
| Sau 50 năm, không gian địa lý của TP.HCM đã rộng hơn rất nhiều, nhưng phép thử thật nằm ở năng lực tổ chức phát triển. Ảnh: Lê Toàn |
Kiến tạo hệ sinh thái thống nhất
Sau 50 năm, không gian địa lý của TP.HCM đã rộng hơn rất nhiều, nhưng phép thử thật đặt ra cho Thành phố lại nằm ở chỗ khác. Thành phố phải biến một vùng đô thị, công nghiệp, cảng biển và tài chính từng vận hành rời rạc thành một hệ thống cạnh tranh thống nhất vào đúng lúc những lợi thế cũ về chi phí, đất đai và tốc độ đang tới giới hạn. Năng lực tổ chức phát triển trở thành lợi thế thay thế và TP.HCM phải vượt qua bài thử đó trước phần còn lại của đất nước.
Để hiểu vì sao câu hỏi đó khó, cần nhìn lại cách TP.HCM đã thắng trong nửa thế kỷ. Thành phố thắng bằng khả năng hút người nhập cư, xí nghiệp, khu công nghiệp, những lớp doanh nhân và công nhân đã làm ra sinh lực thị trường. Vốn nước ngoài đổ vào các khu chế xuất và khu công nghiệp. Đất vùng ven được mở ra cho nhà máy và cho dân cư mới. Khi khung pháp lý chưa theo kịp, Thành phố thường làm trước rồi xin cơ chế sau. Tinh thần xé rào thời bao cấp, rồi làn sóng đầu tư của thập niên 1990 và 2000, đều dựa trên cùng một khả năng. Thành phố biết biến đất, lao động và vị trí thành tăng trưởng nhanh hơn phần còn lại của đất nước.
Nhưng “hút” không chỉ là một động tác kinh tế. TP.HCM giữ được người vì có sức dung nạp xã hội rất riêng trong nhiều thập niên. Người nhập cư đến đây không chỉ tìm việc mà tìm một chỗ để bắt đầu lại. Nhà trọ, con hẻm, chợ, bệnh viện, trường học, những mạng lưới tương trợ và cả tinh thần “thành phố nghĩa tình” đã làm phần việc mà bảng thống kê tăng trưởng không ghi hết. Một vùng đô thị lớn không thể cạnh tranh nếu chỉ có nhà máy và cảng biển, mà còn phải giữ được con người trong một đời sống có thể chịu đựng, gắn bó và đi lên.
Vành đai công nghiệp Bình Dương cũ là phiên bản hoàn chỉnh nhất của cách thắng đó. Một tỉnh nông nghiệp trở thành công xưởng nhờ quỹ đất rộng, chi phí thấp và một bộ máy biết trải thảm cho nhà đầu tư. Mô hình ấy kéo dài nhiều năm và tạo ra của cải thật. Vấn đề là mọi nguồn lực làm nên nó đều có trần và cái trần đang tới gần cùng một lúc.
Đất là giới hạn dễ thấy nhất. Nhiều khu công nghiệp ở vùng Bình Dương (cũ) đã lấp đầy phần lớn diện tích, không ít nơi vượt 80%. Quỹ đất giá rẻ để mời thêm nhà máy không còn dồi dào như trước và phần đất còn lại ngày càng đắt.
Tốc độ thực thi, thứ tưởng là sở trường, lại là chỗ lộ ra điểm yếu sâu nhất. Tuyến Metro số 1 mất gần 17 năm từ khi khởi công đến vận hành thương mại, tổng vốn tăng từ hơn 17.000 tỷ lên hơn 47.000 tỷ đồng. Điều đó cho thấy, các cơ chế phối hợp hạ tầng lớn vẫn còn nhiều nút thắt. Nó khiến Thành phố giỏi xoay xở trong việc nhỏ và việc gấp, nhưng khi phải phối hợp nhiều cơ quan, nhiều nguồn vốn và nhiều năm để hoàn thành một công trình lớn, thì guồng máy chậm lại đáng kể.
Hạ tầng đô thị và điều phối vùng phơi bày cùng một điểm yếu. Một vùng rộng hơn 6.772 km2 cần hệ giao thông, cấp thoát nước, chống ngập và quy hoạch dân cư vận hành ăn khớp với nhau. Trước sáp nhập, mỗi địa phương lo phần của mình theo một logic riêng. Sau sáp nhập, những phần đó phải khớp lại thành một và việc khớp lại khó hơn nhiều so với việc thống nhất địa giới.
Đây là chỗ một khái niệm khô như năng lực tổ chức phát triển cần được nhìn thấy qua việc cụ thể. Hãy theo một container rời nhà máy ở vùng Bình Dương (cũ). Trên lý thuyết nó chỉ cần chạy ra cảng nước sâu rồi lên tàu. Nhưng trên thực tế, hành trình đó đi qua những tuyến đường quá tải, qua các thủ tục thuộc nhiều đầu mối khác nhau và qua những điểm chuyển tiếp làm phát sinh thời gian và chi phí.
Năng lực tổ chức phát triển là khả năng rút ngắn hành trình ấy, để luồng hàng từ xưởng tới mạn tàu chạy như một dây chuyền liền mạch, thay vì một chuỗi chặng rời rạc. Điều này không mua được bằng cách xây thêm một cảng. Nó đòi một bộ máy biết sắp xếp lại đường, thủ tục và lịch trình của nhiều bên thành một nhịp chung.
Cũng có thể nhìn qua thị trường lao động. Một vùng 14 triệu dân chỉ thật sự là một thị trường việc làm khi người sống ở một đầu có thể làm việc ở đầu kia mà không mất hai giờ đi đường mỗi chiều. Điều đó phụ thuộc vào việc nhà ở, tuyến giao thông và chỗ đặt việc làm được bố trí ăn khớp.
Mô hình TOD là phép thử rõ nhất của năng lực này và nó lớn hơn nhiều so với việc xây metro. Một tuyến metro chỉ phát huy giá trị khi đất quanh các nhà ga được quy hoạch lại cho mật độ cao, khi nhà ở và văn phòng dồn về gần ga và khi phần giá trị đất tăng lên nhờ tuyến tàu được thu lại một phần để tài trợ cho tuyến tiếp theo. Làm được chuỗi đó nghĩa là tổ chức cùng lúc đất, nhà ở, giao thông và tài chính đô thị quanh một trục.
Nếu chỉ xây đường ray rồi để giá trị đất rơi hết vào tay người đang giữ đất, thì Thành phố bỏ tiền làm hạ tầng còn người khác hưởng phần tăng giá và tuyến sau lại thiếu vốn. Khoảng cách giữa hai cách làm đó chính là năng lực tổ chức phát triển, hiện ra bằng tiền và bằng quỹ đất chứ không bằng lời.
Cảng biển, khu công nghiệp và dịch vụ tài chính chỉ tạo ra sức cạnh tranh khi vận hành cùng một nhịp. Một cụm cảng mạnh cần vành đai sản xuất tạo ra hàng để chở, cần mạng logistics đưa hàng tới đúng giờ và cần dịch vụ tài chính, bảo hiểm, thanh toán đứng phía sau mỗi chuyến hàng.
Tất cả những việc trên quy về một ràng buộc chung. Vốn có thể vay, đất có thể quy hoạch, hạ tầng có thể xây. Cái khó dựng nhất là một bộ máy quản trị đủ dày để điều phối ngần ấy mảnh thành một hệ thống. Địa giới mới đã mở ra một không gian quản trị lớn hơn. Một thị trường lao động liền mạch, một chuỗi logistics thông suốt và một chính quyền vùng biết ra quyết định nhanh thì phải dựng qua nhiều năm.
Đột phá, đi nhanh nhưng phải về trước
Không quốc gia nào dựng đủ năng lực thể chế rồi mới bắt tay vào làm. Các trung tâm tăng trưởng lớn của châu Á phần lớn học bằng cách làm, mở cửa trước, vận hành thử, va vấp rồi sửa khung dần. Theo lối nghĩ đó, TP.HCM không cần chờ có sẵn một năng lực tổ chức hoàn chỉnh, vì năng lực ấy sẽ hình thành trong chính quá trình vận hành vùng mới, cảng mới và các mô hình tài chính mới.
Quay lại tấm bản đồ ban đầu. Trong cùng một đường ranh bây giờ có cụm cảng nước sâu, vành đai nhà máy, lõi đô thị dịch vụ và một trung tâm tài chính đang hình thành. Trước đây, mỗi mảnh có nhịp riêng, ngân sách riêng, thước đo riêng. Từ nay, giá trị của bản đồ mới sẽ không nằm ở diện tích, mà ở khả năng làm cho các nhịp ấy gặp nhau.
Vai trò của TP.HCM vì thế cũng đổi khác. Trong nửa thế kỷ, Thành phố nhiều lần dẫn trước nhờ đi nhanh, hút người, hút vốn và mở ra những cách làm mới. Bước vào chu kỳ tới, tốc độ vẫn quan trọng, nhưng chưa đủ. Thành phố phải chứng minh rằng, một vùng rộng lớn có thể được tổ chức thành một đời sống kinh tế trơn tru hơn. Hàng đi ra cảng bớt vòng vèo, người lao động đi làm bớt xa, nhà ga kéo được nhà ở và dịch vụ đến gần hơn, cảng biển, khu công nghiệp, logistics và tài chính hỗ trợ nhau, thay vì đứng cạnh nhau.
Đó là lý do câu chuyện 50 năm của TP.HCM không chỉ là ký ức về một đô thị đã lớn lên. Nó là phép thử về cách Việt Nam sẽ cạnh tranh trong giai đoạn mới. Khi lợi thế chi phí, đất đai và tốc độ không còn đủ, Thành phố từng được gọi là năng động và nghĩa tình phải thử trước một lợi thế khó hơn, đó là tổ chức được con người, không gian và dòng vốn thành một hệ thống có sức sống.