- Trình Quốc hội Luật Tài nguyên môi trường biển và hải đảo
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường lập đường dây nóng xử lý vướng mắc Nghị định 46
- Thủ tướng giao 8 nhóm nhiệm vụ năm 2026 cho ngành nông nghiệp và môi trường
- Luật sửa 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường: Xử lý điểm nghẽn, cắt giảm thủ tục kinh doanh
Ngày 11/3, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị tham vấn chính sách của dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) với sự tham dự của đại diện Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các bộ, ngành, địa phương, cùng đông đảo chuyên gia, nhà khoa học, hiệp hội và doanh nghiệp.
| Các đại biểu dự Hội nghị. |
Phát biểu khai mạc Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh không gian đại dương đang trở thành động lực tăng trưởng mới của kinh tế toàn cầu.
Theo Thứ trưởng, nhiều ngành kinh tế biển truyền thống như vận tải biển, thủy sản, du lịch hay dầu khí tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đồng thời xuất hiện các lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao và công nghệ sinh học biển.
Cùng với cơ hội phát triển, các quốc gia cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường biển, suy thoái đa dạng sinh học và rác thải nhựa đại dương.
Trong bối cảnh đó, cộng đồng quốc tế đang thúc đẩy mạnh mẽ các cơ chế quản trị đại dương nhằm bảo đảm khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên biển.
Đối với Việt Nam, biển và hải đảo có vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia. Việt Nam có bờ biển dài hơn 3.260 km và vùng biển rộng trên 1 triệu km², với hệ sinh thái biển phong phú và tiềm năng lớn cho phát triển kinh tế biển.
Tuy nhiên, không gian biển nước ta cũng đang chịu nhiều sức ép từ biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, suy giảm hệ sinh thái và những xung đột trong khai thác, sử dụng tài nguyên biển.
Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được Quốc hội thông qua năm 2015 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển. Song sau gần 10 năm thực hiện, nhiều quy định đã bộc lộ hạn chế và chưa theo kịp thực tiễn phát triển.
Bên cạnh đó, sự xuất hiện của các lĩnh vực kinh tế biển mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp, kinh tế biển xanh cùng các vấn đề môi trường mới nổi như rác thải nhựa đại dương hay suy thoái hệ sinh thái ven biển đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện khung pháp lý và đổi mới phương thức quản lý.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc xây dựng chính sách sửa đổi Luật được thực hiện trên cơ sở quán triệt các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, cùng nhiều nghị quyết quan trọng khác về khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế.
Trên cơ sở tổng kết thi hành luật hiện hành, rà soát hệ thống pháp luật và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xây dựng hồ sơ chính sách của dự án luật với 5 nhóm chính sách lớn.
Các nhóm chính sách này bao gồm tăng cường quản lý và sử dụng không gian biển theo hướng thống nhất, minh bạch; hoàn thiện chính sách bảo vệ tài nguyên và môi trường vùng bờ; kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, đặc biệt là rác thải nhựa đại dương; thúc đẩy khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên biển; đồng thời hoàn thiện cơ chế phát triển bền vững kinh tế biển theo hướng xanh, hài hòa giữa bảo tồn và phát triển.
Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, Hội nghị tham vấn lần này là dịp quan trọng để các cơ quan của Quốc hội, các bộ, ngành, địa phương, cộng đồng khoa học và doanh nghiệp cùng thảo luận, đóng góp ý kiến đối với các nhóm chính sách lớn của dự án luật.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường mong muốn nhận được các ý kiến góp ý sâu sắc về phạm vi sửa đổi của luật, tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, tính khả thi của các cơ chế và công cụ quản lý, cũng như việc hài hòa giữa phát triển kinh tế biển với bảo vệ môi trường và hệ sinh thái.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cam kết sẽ nghiêm túc tiếp thu, tổng hợp đầy đủ các ý kiến đóng góp của đại biểu để tiếp tục hoàn thiện hồ sơ chính sách, làm cơ sở xây dựng dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), đáp ứng yêu cầu quản lý tài nguyên biển và phát triển bền vững đất nước trong giai đoạn mới.
Trước đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường có tờ trình Chính phủ chính sách xây dựng Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), với mục tiêu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển, sử dụng hiệu quả không gian biển và thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển trong giai đoạn mới.
Dự thảo chính sách được xây dựng trên cơ sở tổng kết gần 10 năm thi hành luật hiện hành, đồng thời cập nhật các yêu cầu mới về chuyển đổi số, khoa học - công nghệ, hội nhập quốc tế, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế biển xanh.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được Quốc hội thông qua năm 2015 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho công tác quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo.
Qua gần một thập kỷ thực hiện, luật đã góp phần nâng cao nhận thức xã hội, thúc đẩy điều tra cơ bản về biển, tăng cường kiểm soát nguồn thải, từng bước hình thành cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong các vấn đề về biển và hải đảo.
Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, nhiều quy định của luật hiện hành đã bộc lộ bất cập, chưa theo kịp thực tiễn.
Nhiều lĩnh vực kinh tế biển mới phát triển nhanh như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp, kinh tế biển xanh, công nghệ sinh học biển, song khuôn khổ pháp lý chưa đủ đồng bộ để điều chỉnh.
Bên cạnh đó, các vấn đề môi trường mới nổi như rác thải nhựa đại dương, suy thoái hệ sinh thái ven biển, ô nhiễm xuyên biên giới, tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang tạo sức ép ngày càng lớn lên không gian biển Việt Nam.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng việc sửa đổi luật là cần thiết nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối mới của Đảng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chuyển đổi mô hình quản lý biển theo hướng hiện đại, dựa trên khoa học, công nghệ và dữ liệu, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để khắc phục những khoảng trống, chồng chéo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
Một trong những nội dung trọng tâm được đề xuất là tăng cường quản lý, sử dụng không gian biển. Theo Bộ này, hiện nhu cầu khai thác và sử dụng biển ngày càng đa dạng nhưng pháp luật hiện hành mới chủ yếu dừng ở các quy định khung về giao khu vực biển, chưa luật hóa đầy đủ các nội dung cốt lõi như quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng biển; chế độ tài chính; cơ chế đấu giá; chuyển nhượng, thế chấp, cho thuê, thừa kế quyền sử dụng khu vực biển; hay xử lý xung đột, chồng lấn trong khai thác, sử dụng không gian biển.
Do đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất bổ sung một chương riêng trong luật về quản lý, sử dụng khu vực biển, hình thành chế định pháp lý đầy đủ cho phân bổ và kiểm soát không gian biển, gắn chặt với Quy hoạch không gian biển quốc gia.
Một nhóm chính sách lớn khác tập trung vào bảo vệ tài nguyên, môi trường vùng bờ. Theo đánh giá của cơ quan soạn thảo, vùng bờ Việt Nam đang chịu nhiều rủi ro nghiêm trọng như xói lở, suy thoái hệ sinh thái, ngập lụt, nước biển dâng và tác động ngày càng gia tăng của biến đổi khí hậu. Cùng với đó là sức ép từ công nghiệp hóa, đô thị hóa, du lịch, khai thác cát và sử dụng không gian ven biển thiếu kiểm soát.
Trước thực tế này, Bộ đề xuất sửa đổi, bổ sung luật theo hướng hoàn thiện khung pháp lý về quản lý, bảo vệ tài nguyên, môi trường vùng bờ, tăng cường các biện pháp phòng ngừa, kiểm soát xói lở, suy thoái và ô nhiễm, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong giám sát, cập nhật bản đồ nguy cơ xói lở và xây dựng kế hoạch ứng phó.
Bộ cũng đề xuất hoàn thiện các quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo. Theo đó, luật sửa đổi sẽ hướng tới thiết lập khuôn khổ pháp lý đầy đủ, thống nhất và khả thi để phòng ngừa, kiểm soát, giảm thiểu và khắc phục ô nhiễm môi trường biển; bảo vệ, phục hồi hệ sinh thái biển; đồng thời nội luật hóa đầy đủ các điều ước quốc tế quan trọng mà Việt Nam là thành viên.
Các nội dung đáng chú ý bao gồm kiểm soát ô nhiễm từ đất liền ra biển; xử lý tàu thuyền, vật thể bị bỏ rơi; bổ sung mục riêng về kiểm soát rác thải biển, nhất là rác thải nhựa; kiểm soát sinh vật ngoại lai qua nước dằn tàu; quy định về bồi thường ô nhiễm dầu trên biển và nội luật hóa các cam kết liên quan đến bảo tồn, sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển ngoài phạm vi quyền tài phán quốc gia.
Trong bối cảnh khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực phát triển mới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đề xuất xây dựng khung pháp lý chuyên ngành để thúc đẩy phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo.
Theo định hướng này, luật sửa đổi sẽ ưu tiên phát triển và ứng dụng các công nghệ phục vụ điều tra cơ bản, quan trắc, giám sát, dự báo, khai thác bền vững tài nguyên, xử lý ô nhiễm và phục hồi hệ sinh thái biển; đồng thời hình thành hệ thống dữ liệu biển thống nhất, nền tảng số và hệ thống thông tin phục vụ quản lý tổng hợp, liên ngành, đa mục tiêu.
Cơ quan soạn thảo cũng đề xuất cơ chế ưu đãi, hỗ trợ để thu hút doanh nghiệp, tổ chức khoa học - công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo và khu vực tư nhân tham gia vào nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ và đầu tư cho chuyển đổi số trong lĩnh vực biển.
Một điểm nhấn khác trong hồ sơ chính sách là xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, dù Nghị quyết số 36-NQ/TW đã xác lập định hướng chiến lược về phát triển bền vững kinh tế biển, nhưng trong thực tế, tăng trưởng kinh tế biển vẫn chưa thật sự bền vững, còn phụ thuộc nhiều vào khai thác tài nguyên truyền thống, trong khi các ngành kinh tế biển xanh, công nghệ cao và ít phát thải phát triển chưa tương xứng với tiềm năng.
Vì vậy, luật sửa đổi cần xác lập rõ hơn nguyên tắc và cơ chế phát triển kinh tế biển theo hướng xanh, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải, hài hòa giữa khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển.
Bộ cũng đề xuất cơ chế ưu tiên đối với các ngành kinh tế biển mới, nhất là năng lượng tái tạo ngoài khơi, cùng các cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực.
Theo tờ trình, việc xây dựng chính sách sửa đổi luật không làm phát sinh thêm tổ chức bộ máy và biên chế. Nguồn nhân lực hiện có tại các cơ quan trung ương và địa phương sẽ được sử dụng để triển khai thực hiện sau khi luật được ban hành.
Về cơ sở vật chất, trang thiết bị và hạ tầng thông tin, các cơ quan được phân công đã có nền tảng ban đầu để đáp ứng yêu cầu thực thi, việc bố trí và sử dụng kinh phí sẽ thực hiện theo quy định của pháp luật.
Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh, việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo không chỉ nhằm khắc phục những hạn chế của luật hiện hành mà còn hướng tới xây dựng một nền tảng pháp lý hiện đại, đồng bộ và có tính chiến lược cho quản trị biển trong dài hạn.
Đây sẽ là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái biển, sử dụng hiệu quả không gian biển, thúc đẩy kinh tế biển xanh và tạo động lực cho phát triển nhanh, bền vững đất nước trong giai đoạn mới.