| Việt Nam đang chuyển đổi sang mô hình phát triển mới dựa chủ yếu vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong ảnh: Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (Bộ Tài chính) |
Thực trạng mô hình phát triển mới
Quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển mới dựa chủ yếu vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST và CĐS) trên lĩnh vực kinh tế ở nước ta theo chủ trương của Đảng bước đầu đã có những chuyển biến tích cực: tăng trưởng của nền kinh tế ngày càng ít phụ thuộc hơn vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động trình độ thấp và đang chuyển dần sang dựa trên KHCN, ĐMST; năng suất lao động xã hội được nâng lên một bước.
Chất lượng tăng trưởng có chuyển biến tích cực, năng suất lao động tăng bình quân 5,2%/năm, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 47%. Đầu tư công được phân bổ, sử dụng có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả hơn; chất lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục được cải thiện. Công nghệ số, chuyển đổi số ngày càng trở nên phổ biến hơn trong nền kinh tế.
Nền kinh tế bước đầu được cơ cấu lại theo hướng số hóa, xanh hóa, đa dạng hóa, tăng cường sức chống chịu, nâng cấp chuỗi giá trị dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Tốc độ tăng trưởng kinh tế số bình quân giai đoạn 2021 - 2025 đạt 9,8%/năm, chiếm trên 14% GDP năm 2025; tỷ lệ người dân trưởng thành có tài khoản thanh toán chiếm trên 87%, vượt chỉ tiêu đề ra (80%), thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phổ biến.
Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng bình quân 6,4%/năm. Công nghiệp chế biến, chế tạo có mức tăng trưởng khá, nhất là các ngành chủ lực như điện tử, dệt may, da giày, đồ gỗ...; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP tăng từ 23,9% năm 2020 lên khoảng 24,5% năm 2025; giá trị tăng thêm công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân đầu người đạt trên 1.230 USD. Đã hình thành một số ngành công nghiệp có quy mô lớn, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, từng bước hình thành năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST quốc gia hình thành, ngày càng phát triển; mức độ sẵn sàng về công nghệ của Việt Nam đang tăng lên... đưa nước ta vào nhóm những quốc gia có nền kinh tế số tăng trưởng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á.
“Tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức khá cao so với khu vực và thế giới, tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân giai đoạn 2021 - 2025 đạt 6,2%/năm, trong đó năm 2025 tăng 8,02%. Quy mô GDP từ 346,6 tỷ USD năm 2020, xếp thứ 37 trên thế giới, tăng lên trên 514 tỷ USD năm 2025, gấp 1,48 lần so với năm 2020, xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 trong khu vực ASEAN; GDP bình quân đầu người gấp 1,4 lần, tăng từ 3.552 USD lên khoảng 5.026 USD. Thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người tăng từ 3.400 USD năm 2020 lên 4.750 USD năm 2025, bước vào nhóm các nước có thu nhập trung bình cao”, Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho biết.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc chuyển sang mô hình phát triển mới dựa chủ yếu trên KHCN, ĐMST, CĐS trên lĩnh vực kinh tế nước ta vẫn còn một số hạn chế, yếu kém như: tốc độ chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế sang chủ yếu dựa trên KHCN, ĐMST, CĐS còn chậm so với yêu cầu đặt ra; tăng trưởng kinh tế vẫn còn dựa nhiều vào thâm dụng vốn và lao động trình độ thấp; đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế có tăng lên nhưng chưa bền vững; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh nền kinh tế vẫn còn yếu; KHCN và ĐMST chưa trở thành động lực chính cho phát triển kinh tế, tăng năng suất lao động; liên kết theo chuỗi giá trị giữa nghiên cứu, sản xuất và kinh doanh còn chưa phổ biến; năng lực nghiên cứu KHCN và kết nối với doanh nghiệp của các trường đại học, viện nghiên cứu còn hạn chế; năng lực hấp thụ, động lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam chưa cao, chưa hình thành được năng lực nội sinh đủ mạnh để phát huy vai trò của KHCN, ĐMST, CĐS.
Giải pháp chuyển đổi mô hình phát triển mới
Chuyển đổi sang mô hình phát triển mới dựa chủ yếu vào KHCN, ĐMST, CĐS trên lĩnh vực kinh tế nước ta gắn liền với đổi mới tầm nhìn chiến lược dài hạn về cách thức vận hành nền kinh tế để đạt được phát triển, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững là yêu cầu cấp bách, là nhiệm vụ trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là cách thức để Việt Nam đạt được mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, vững bước đi lên xã hội chủ nghĩa.
Chuyển đổi sang mô hình phát triển mới dựa chủ yếu vào KHCN, ĐMST, CĐS trên lĩnh vực kinh tế nước ta đồng nghĩa với việc coi phát triển KHCN, ĐMST, CĐS là nhiệm vụ đột phá có tầm quan trọng quyết định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia. Do vậy, cần có những chính sách, giải pháp đột phá xóa bỏ các rào cản, tạo môi trường thuận lợi thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài trong và ngoài nước đóng góp cho phát triển bền vững đất nước, theo đó cần chú trọng các giải pháp sau:
Một là, nâng cao nhận thức xã hội, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự kiến tạo phát triển của Nhà nước đối với quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển mới dựa chủ yếu vào KHCN, ĐMST, CĐS trên lĩnh vực kinh tế ở nước ta. Quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển mới dựa chủ yếu vào KHCN, ĐMST, CĐS trên lĩnh vực kinh tế ở nước ta là chủ trương mang tầm chiến lược của Đảng, đòi hỏi các chủ thể lãnh đạo, thực thi vừa có tư duy, tầm nhìn chiến lược, vừa có năng lực thực tiễn nhạy bén. Trong quá trình lãnh đạo cần nhanh chóng khắc phục tư duy nhiệm kỳ, tầm nhìn ngắn hạn, cục bộ, gắn quá trình chuyển biến từng địa phương với vùng, với liên vùng và với quốc gia.
Nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý về quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển mới dựa chủ yếu vào KHCN, ĐMST, CĐS trên lĩnh vực kinh tế - đó là xu thế tất yếu khách quan, nhưng rất cần những nỗ lực chủ quan của các chủ thể, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và sự đồng thuận của hệ thống chính trị, toàn xã hội nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển biến này.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển mới dựa chủ yếu vào KHCN, ĐMST, CĐS trên lĩnh vực kinh tế nhằm tạo lập sự đồng thuận xã hội cao trong thực thi các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra. Từ đó, củng cố lòng tin, xây dựng sự đồng thuận xã hội để các chính sách được thực thi một cách nghiêm túc và hiệu quả ở các cấp, các ngành.
Hai là, tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt có tính nền tảng để chuyển đổi sang mô hình phát triển mới dựa chủ yếu vào KHCN, ĐMST, CĐS trên lĩnh vực kinh tế.
Về thể chế phát triển KHCN, ĐMST, CĐS, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật KHCN, ĐMST, CĐS phù hợp với tính đặc thù của hoạt động KHCN, ĐMST, CĐS, phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế; đổi mới mạnh mẽ cơ chế hoạt động quản lý KHCN, ĐMST, CĐS; đẩy mạnh thực hiện cơ chế thử nghiệm có kiểm soát các cơ chế, chính sách mới, thúc đẩy triển khai và ứng dụng công nghệ mới, ĐMST, mô hình kinh doanh mới, mô hình tăng trưởng mới...; xác lập mối quan hệ giữa Nhà nước - thị trường - xã hội trong hoạt động KHCN, ĐMST, CĐS. Có cơ chế, chính sách thông thoáng nhất, tạo những điều kiện thuận lợi nhất, khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh phát triển KHCN, ĐMST, CĐS.
Về nguồn nhân lực, Nhà nước cần ban hành và thực thi hiệu quả chính sách quốc gia phát hiện, thu hút, trọng dụng, đãi ngộ nhân tài, tạo khung pháp lý đồng bộ, thống nhất, nền tảng. Trên cơ sở đó, các ngành, các địa phương ban hành các chính sách trọng dụng nhân tài phù hợp nhằm thu hút, giữ chân được người tài, các chuyên gia, nhà khoa học giỏi trong và ngoài nước tham gia nghiên cứu, triển khai KHCN, ĐMST, CĐS ở tất cả các cấp, các ngành, các
địa phương.
Cùng với chính sách trọng dụng nhân tài, cần có chính sách đồng bộ để phát hiện, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thực tài phù hợp với bối cảnh chuyển đổi sang mô hình phát triển mới. Ngoài ra, cần tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu, triển khai ứng dụng thành quả nghiên cứu KHCN, ĐMST, CĐS vào phát triển kinh tế.
Về kết cấu hạ tầng, trong tổng thể các nội dung của nhiệm vụ đột phá chiến lược về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội đồng bộ và hiện đại, cần đặt phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng KHCN, ĐMST, CĐS đồng bộ và hiện đại ở vị trí ưu tiên. Trong điều kiện nguồn lực tài chính còn hạn hẹp, cần lựa chọn một số trường đại học, viện nghiên cứu có tiềm lực để đầu tư xây dựng một số phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia phục vụ nghiên cứu phát triển cơ bản, ứng dụng cho các ngành KHCN mũi nhọn, đi tắt, đón đầu và tạo điều kiện để phát triển nguồn nhân lực KHCN, ĐMST, CĐS chất lượng cao.
Nhà nước đẩy mạnh đầu tư công và mua sắm công gắn với các chương trình KHCN, ĐMST, CĐS quốc gia, gắn với chuyển giao công nghệ nước ngoài, ứng dụng công nghệ nội sinh, đặt hàng nghiên cứu ở các viện, trường trong nước. Tăng cường sự đóng góp của khu vực công vào chương trình khởi nghiệp ĐMST, phát triển KHCN, CĐS, đưa các chỉ tiêu liên quan đến thương mại hóa nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và các hoạt động hợp tác vào lộ trình phát triển nghề nghiệp nghiên cứu; nâng cao năng lực thương mại hóa và chuyển giao công nghệ tại các trường đại học và các cơ sở nghiên cứu
trọng điểm....
Ba là, tổ chức, thực hiện có hiệu quả và thực chất các nội dung cơ cấu lại các ngành kinh tế gắn với quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển mới dựa chủ yếu vào KHCN, ĐMST, CĐS trên lĩnh vực kinh tế. Tăng cường nghiên cứu và triển khai ứng dụng công nghệ cao đối với các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp hàng hóa có giá trị cao, đồng thời thích ứng được với biến đổi khí hậu. Tăng cường sức cạnh tranh, thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo theo hướng thực hiện liên kết doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước qua giải pháp chủ đạo là đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ dưới sự dẫn dắt của các doanh nghiệp FDI. Đồng thời, có chính sách khuyến khích để các doanh nghiệp Việt Nam bắt buộc phải học hỏi, sử dụng hiệu quả, cải tiến công nghệ, từ đó mới tiến tới khả năng làm chủ được công nghệ cao. Phát triển các ngành dịch vụ chất lượng cao.
Bốn là, hoàn thiện bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý KHCN, ĐMST, CĐS quốc gia phù hợp với quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển mới dựa chủ yếu vào KHCN, ĐMST, CĐS trên lĩnh vực kinh tế. Theo đó, sớm hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước theo hướng nâng cao trách nhiệm và quyền tự chủ của chủ thể trong nghiên cứu, triển khai ứng dụng, thương mại hóa thành quả nghiên cứu KHCN, ĐMST; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, khuyến khích thành lập, tăng quy mô và có cơ chế thông thoáng cho các quỹ KHCN, ĐMST, CĐS trong doanh nghiệp; thúc đẩy, khuyến khích nguồn lực ngoài nhà nước, nhất là khu vực tư nhân đầu tư mạnh cho nghiên cứu phát triển KHCN, ĐMST, CĐS. Khuyến khích phát triển các quỹ đầu tư mạo hiểm và xây dựng cơ chế hợp tác công - tư đầu tư mạo hiểm trong KHCN, ĐMST, CĐS. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác quản lý nhà nước về KHCN, ĐMST.
Năm là, xây dựng, phát triển văn hóa ĐMST, CĐS sâu rộng trong toàn xã hội. Về lâu dài, tất cả các hoạt động đều phải hướng đến xây dựng văn hóa ĐMST, CĐS nhằm thúc đẩy cá nhân, tổ chức nhà nước, doanh nghiệp xây dựng và hoàn thiện giá trị văn hóa mới, đó là coi trọng ĐMST, CĐS gắn liền với mục tiêu phát triển bền vững. Văn hóa ĐMST, CĐS dựa trên nền tảng tôn trọng lối suy nghĩ khác biệt, dũng cảm dấn thân cho đổi mới, sáng tạo để mang lại những giá trị mới cho cộng đồng, dân tộc, quốc gia.
Ngoài ra, để xây dựng văn hóa ĐMST, CĐS cần một Chính phủ kiến tạo, phục vụ chuyên nghiệp, có năng lực tạo ra môi trường khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới, sáng tạo; có năng lực phát hiện, nuôi dưỡng, phát triển những tài năng, khuyến khích con người vươn lên trong sản xuất, kinh doanh, làm giàu cho bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội. Nhà nước định hướng xây dựng văn hóa ĐMST, CĐS tạo tiền đề cho mỗi cá nhân và toàn xã hội ĐMST, CĐS.
Những ưu tiên hàng đầu
Trong quá trình chuyển đổi mô hình mới, một trong những ưu tiên hàng đầu là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bởi con người đóng vai trò quyết định trong mô hình phát triển mới dựa chủ yếu vào KHCN, ĐMST, CĐS trên lĩnh vực kinh tế. Nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực cốt lõi trong phát triển KHCN, ĐMST, CĐS.... Cũng bởi vậy, để hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao thì đầu tư vào giáo dục đại học và đào tạo nghề phải là chiến lược dài hạn và cần ưu tiên kết hợp với thực hiện cơ chế, chính sách đột phá thu hút, trọng dụng, đãi ngộ nhân tài.
Bên cạnh đó, cần có chiến lược phát triển rõ ràng và nhất quán mô hình phát triển mới dựa chủ yếu vào KHCN, ĐMST, CĐS trên lĩnh vực kinh tế; coi cải cách thể chế là then chốt, bao gồm việc xây dựng các “Sandbox” cho kinh tế tri thức, kinh tế dự liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ... và giảm thiểu thủ tục hành chính. Cùng với đó, thúc đẩy hỗ trợ hợp tác giữa doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học, cơ chế tài chính thông thoáng cho R&D... coi đó là yêu cầu cấp thiết. Ngoài ra, phải chú trọng kinh tế xanh và chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng... để thực hiện cam kết Net Zero bởi việc cân bằng giữa kinh tế và bảo vệ môi trường là yếu tố sống còn. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, những quốc gia phát triển bền vững là những nước biết kết hợp hài hòa giữa lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái.
Thiết lập, hoàn thiện mô hình phát triển mới dựa chủ yếu vào KHCN, ĐMST, CĐS trên lĩnh vực kinh tế trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế là một tất yếu khách quan, không thể đảo ngược. Trong mô hình phát triển mới, trụ cột giá trị là khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thiết lập, hoàn thiện mô hình phát triển mới vừa là thách thức, nhưng cũng là cơ hội để cấu trúc lại nền kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững và hội nhập quốc tế sâu, rộng.
Nếu biết tận dụng thời cơ dịch chuyển chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị, phát huy nội lực và học hỏi kinh nghiệm quốc tế linh hoạt, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng, phát triển mô hình phát triển mới dựa chủ yếu vào KHCN, ĐMST, CĐS trên lĩnh vực kinh tế hiệu quả, chất lượng và khẳng định vị thế toàn cầu; hiện thực hóa khát vọng trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.