Kinh doanh
Tháo gỡ nợ thuế tồn đọng: Không để doanh nghiệp “mắc kẹt” khi rút khỏi thị trường
Hồng Vân - 02/11/2026 16:22
Việc Bộ Tài chính đề xuất các cơ chế đặc thù xử lý nợ thuế, tiền chậm nộp và thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế được đánh giá là bước đi cần thiết để giải quyết những hồ sơ tồn đọng kéo dài.

Gỡ rào cản cho doanh nghiệp

Thực tế thời gian qua, nhiều doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhiều năm, không phát sinh doanh thu, thậm chí không còn nợ thuế gốc nhưng vẫn chưa thể hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Trong khi đó, các khoản lệ phí môn bài, tiền chậm nộp và tiền phạt có thể trở thành gánh nặng tài chính, khiến doanh nghiệp càng khó hoàn thành thủ tục.

Theo bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam (VTCA), nếu không có cơ chế tháo gỡ phù hợp, doanh nghiệp tiếp tục tồn tại trên hệ thống quản lý dù thực tế đã rời khỏi thị trường. Điều này vừa gây khó khăn cho doanh nghiệp, vừa làm gia tăng hồ sơ tồn đọng và chi phí quản lý của cơ quan Thuế.

Công chức Thuế tỉnh Thanh Hóa hướng dẫn người nộp thuế kiểm tra thông tin cá nhân, nghĩa vụ thuế trên ứng dụng eTax Mobile. Ảnh: TN

Công chức Thuế tỉnh Thanh Hóa hướng dẫn người nộp thuế kiểm tra thông tin cá nhân, nghĩa vụ thuế trên ứng dụng eTax Mobile. Ảnh: TN

Ý nghĩa của các đề xuất không chỉ là xử lý số lượng lớn mã số thuế tồn đọng mà còn tháo gỡ rào cản đối với quá trình rút khỏi thị trường. Khi thủ tục được thực hiện thuận lợi, minh bạch và có chi phí tuân thủ hợp lý, môi trường kinh doanh sẽ thông thoáng hơn.

Bà Cúc cho biết, VTCA đã tiếp nhận nhiều phản ánh từ doanh nghiệp, đại lý thuế và những người trực tiếp thực hiện thủ tục thuế. Từ thực tiễn này, Hội kiến nghị nghiên cứu không truy thu lệ phí môn bài, tiền chậm nộp và không xử phạt chậm nộp hồ sơ khai thuế đối với doanh nghiệp thực sự không hoạt động, không phát sinh doanh thu, chi phí và không nợ thuế; đồng thời xem xét trách nhiệm đối với hành vi không thực hiện thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế.

Đáng chú ý, các đề xuất của Bộ Tài chính có nhiều điểm tương đồng với kiến nghị của VTCA. Theo bà Cúc, dự thảo Nghị quyết của Quốc hội đề xuất xử lý nợ lệ phí môn bài và tiền chậm nộp lệ phí môn bài phát sinh đến hết ngày 31/12/2025 đối với những trường hợp đáp ứng điều kiện. Trong khi đó, dự thảo Nghị quyết của Chính phủ đề xuất giảm mức phạt chậm nộp hồ sơ khai thuế theo lộ trình, lần lượt bằng 30%, 50% và 70% mức phạt thông thường tùy từng giai đoạn.

Việc đề xuất giảm mức phạt theo lộ trình là hướng xử lý tích cực, vừa giảm gánh nặng tài chính, vừa khuyến khích người nộp thuế sớm hoàn thiện hồ sơ. Tuy nhiên, bà nhấn mạnh, đối với khoản thuế gốc còn nợ, cần phân loại và xác định rõ nghĩa vụ để thu đúng, thu đủ theo quy định. Tháo gỡ khó khăn không đồng nghĩa với xóa bỏ trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế.

Không để chính sách bị lợi dụng

Một vấn đề đáng chú ý trong dự thảo là cơ chế xử lý đối với người nộp thuế thuộc trạng thái 03 và 06 kéo dài từ đủ 10 năm trở lên.

Theo thống kê của ngành Thuế được bà Cúc dẫn lại, có hơn 753.000 người nộp thuế thuộc hai trạng thái này đã kéo dài trên 10 năm, chiếm khoảng 25% tổng số người nộp thuế ở trạng thái 03 và 06. Trong đó, khoảng 287.000 doanh nghiệp, tổ chức; đáng chú ý, hơn 172.000 trường hợp không có nợ thuế, chiếm khoảng 60% số doanh nghiệp, tổ chức thuộc nhóm tồn đọng trên 10 năm.

Bà Cúc cho rằng, việc nghiên cứu cơ chế xử lý các trường hợp ngừng hoạt động kéo dài là cần thiết. Tuy nhiên, không thể chỉ căn cứ vào thời gian tồn đọng mà phải xác định bản chất từng trường hợp, phân biệt doanh nghiệp thực sự gặp khó khăn, thua lỗ với những trường hợp cố tình bỏ địa chỉ kinh doanh, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp hoặc trốn tránh nghĩa vụ thuế.

Về cơ sở pháp lý, bà Cúc dẫn điểm c khoản 1 Điều 21 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 về xóa tiền thuế nợ đối với trường hợp đã áp dụng biện pháp cưỡng chế, khoản nợ quá 10 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp nhưng không có khả năng thu hồi. Bên cạnh đó, khoản 8 Điều 44 của Luật quy định về nghĩa vụ nộp thuế sau khi hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế.

Đối với cơ chế xử lý trong dự thảo, bà Cúc cho biết, việc chấm dứt hiệu lực mã số thuế được đề xuất áp dụng với những trường hợp đáp ứng điều kiện, không có nợ thuế và không thuộc diện đang bị thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử. Dự thảo cũng đặt ra yêu cầu công khai thông tin trong 30 ngày trước khi chấm dứt hiệu lực mã số thuế.

Theo bà, cách tiếp cận này có thể tạo điều kiện xử lý hồ sơ tồn đọng, nhưng phải đi kèm quy trình xác minh chặt chẽ. Việc phân loại cần dựa trên dữ liệu quản lý thuế, lịch sử kê khai, tình trạng sử dụng hóa đơn và nghĩa vụ tài chính của từng người nộp thuế.

Những doanh nghiệp không có dấu hiệu gian lận cần được tạo điều kiện hoàn tất thủ tục. Ngược lại, các trường hợp có dấu hiệu vi phạm phải được kiểm tra, xử lý nghiêm. Đặc biệt, việc chấm dứt hiệu lực mã số thuế không đồng nghĩa với miễn trừ trách nhiệm pháp lý đối với những hành vi vi phạm đã xảy ra trước đó.

Để chính sách đi vào cuộc sống, cần có quy trình xử lý phù hợp với từng nhóm người nộp thuế: đơn giản hóa thủ tục cho doanh nghiệp không còn nợ thuế, không phát sinh hoạt động; hướng dẫn cụ thể những trường hợp còn nghĩa vụ tài chính nhưng không có dấu hiệu gian lận; kiểm tra, xác minh các trường hợp rủi ro cao.

Cùng với đó, cần kết nối dữ liệu giữa cơ quan Thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh và các đơn vị liên quan, tránh yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại thông tin đã có; đồng thời phát huy vai trò của đại lý và tổ chức tư vấn thuế.

Về lâu dài, quản lý thuế cần dựa trên mức độ rủi ro và tình trạng thực tế của người nộp thuế, vừa xử lý hồ sơ tồn đọng, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp rút khỏi thị trường đúng pháp luật với chi phí tuân thủ hợp lý.
Tin liên quan
Tin khác