Xử lý theo từng nhóm nghĩa vụ thuế
Một giải pháp trọng tâm được nêu trong dự thảo mà Bộ Tài chính đang gửi xin ý kiến là xóa tiền chậm nộp đối với người nộp thuế đã ngừng hoạt động hoặc không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký (thuộc trạng thái 03 và 06) theo điều kiện của dự thảo.
Người nộp thuế phải hoàn thành hồ sơ hợp lệ để đề nghị khôi phục mã số thuế hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế; đồng thời, cơ quan thuế phải xác định người nộp thuế đáp ứng điều kiện áp dụng. Việc xóa tiền chậm nộp không đồng nghĩa với xóa nợ thuế gốc.
| Nguồn số liệu: Bộ Tài chính. |
Dự thảo quy định việc xử lý gắn với thu hồi tiền thuế nợ gốc và khôi phục hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Đối với người nộp thuế đã được xóa tiền chậm nộp theo Nghị quyết số 94/2019/QH14 nhưng chưa thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định, dự thảo cũng đặt ra cơ chế xử lý để tránh trùng lặp, đồng thời bảo đảm không xóa tiền chậm nộp ngoài phạm vi chính sách.
Với lệ phí môn bài, dự thảo đề xuất xóa khoản phải nộp và tiền chậm nộp liên quan đối với các trường hợp thuộc phạm vi điều chỉnh. Theo hồ sơ, đến ngày 31/12/2025, khoảng 764.000 người nộp thuế còn nợ lệ phí môn bài, với tổng số tiền khoảng 1.450 tỷ đồng. Chính sách hướng tới xử lý các khoản nợ tồn đọng, giảm chi phí quản lý và tạo điều kiện hoàn tất thủ tục thuế cho người nộp thuế đủ điều kiện.
Dự thảo đồng thời quy định việc kê khai lệ phí môn bài đối với nghĩa vụ chưa thực hiện theo điều kiện cụ thể. Theo đó, người nộp thuế thuộc trường hợp được áp dụng không phải nộp hồ sơ khai thuế đối với kỳ tính thuế không phát sinh nghĩa vụ trong thời gian ngừng hoạt động, nếu đã thực hiện thủ tục thông báo theo quy định. Với trường hợp chưa hoàn thành thủ tục tạm ngừng, cơ quan thuế căn cứ hồ sơ và dữ liệu quản lý để xác định nghĩa vụ, thời gian áp dụng.
Quy định điều kiện, trình tự và trách nhiệm thực hiện
Đối với hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế, dự thảo đề xuất cơ chế xử lý tiền phạt theo từng trường hợp, trong đó có các mức bằng 30%, 50% hoặc 70% mức phạt thông thường tùy điều kiện áp dụng. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai được đề xuất áp dụng mức bằng 50% mức phạt tương ứng. Chính sách này không áp dụng đối với trường hợp có dấu hiệu trốn thuế hoặc thuộc diện loại trừ theo dự thảo.
Về trình tự, cơ quan thuế rà soát dữ liệu quản lý, xác định người nộp thuế và khoản nghĩa vụ thuộc diện xử lý, đồng thời tiếp nhận hồ sơ đề nghị khôi phục mã số thuế hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Dự thảo quy định việc công khai thông tin người nộp thuế thuộc diện xử lý để cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có thể phản hồi; trường hợp có ý kiến phản đối, cơ quan thuế xem xét, xác minh trước khi quyết định.
Đối với hồ sơ đủ điều kiện, cơ quan thuế thực hiện xử lý theo trình tự và thời hạn được quy định trong dự thảo, cập nhật kết quả trên hệ thống quản lý thuế và lưu trữ hồ sơ để phục vụ kiểm tra, giám sát. Trường hợp phát hiện thông tin không chính xác, nghĩa vụ thuế chưa được xác định đầy đủ hoặc người nộp thuế không đáp ứng điều kiện, cơ quan thuế phải xử lý theo quy định pháp luật hiện hành.
Dự thảo cũng nhấn mạnh trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan thuế trong việc kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện; bảo đảm quyết định xử lý có căn cứ, đúng đối tượng và đúng thẩm quyền. Việc công khai thông tin, đối chiếu dữ liệu và lưu trữ hồ sơ nhằm hạn chế tình trạng lợi dụng chính sách, xử lý sai đối tượng hoặc bỏ sót nghĩa vụ thuế.
Theo dự thảo, chính sách dự kiến được áp dụng đến hết ngày 30/6/2028. Khoảng thời gian này nhằm tạo điều kiện để cơ quan thuế và người nộp thuế rà soát, hoàn thiện hồ sơ và xử lý các trường hợp tồn đọng thuộc phạm vi điều chỉnh.
Nếu được thông qua, Nghị quyết sẽ tạo cơ sở pháp lý đặc thù để xử lý một bộ phận nghĩa vụ thuế tồn đọng kéo dài. Hiệu quả thực hiện phụ thuộc vào việc xác định đúng đối tượng, tuân thủ đầy đủ điều kiện và trình tự, đồng thời bảo đảm việc xóa tiền chậm nộp, xử lý tiền phạt không trở thành cơ chế xóa bỏ nghĩa vụ thuế gốc hoặc tạo kẽ hở để né tránh trách nhiệm với ngân sách nhà nước.