Y tế - Sức khỏe
Tiêm đủ, tiêm nhắc đúng lịch để phòng viêm não Nhật Bản
D.Ngân - 16/06/2026 15:49
Hiện nay, viêm não Nhật Bản vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Các biện pháp điều trị chủ yếu là hồi sức tích cực, kiểm soát triệu chứng và hạn chế biến chứng. Chính vì vậy, phòng bệnh bằng vắc-xin vẫn là chiến lược hiệu quả nhất để giảm nguy cơ tử vong và di chứng lâu dài.

Tại Việt Nam, trước khi vắc-xin viêm não Nhật Bản được triển khai rộng rãi, mỗi năm ghi nhận từ 2.000 đến 3.000 ca mắc viêm não Nhật Bản. Năm 1985, số ca bệnh từng lên tới gần 5.000 trường hợp. Đến năm 1995, viêm não Nhật Bản chiếm tới 61% các ca viêm não do virus.

Nhờ quy trình sản xuất hiện đại và tinh khiết hóa cao, vắc-xin thế hệ mới không chứa protein từ não chuột, qua đó giảm thiểu các phản ứng sau tiêm như sốt, đau hoặc sưng tại vị trí tiêm.

Nhờ chương trình tiêm chủng mở rộng, số ca mắc đã giảm mạnh xuống còn khoảng 100-200 trường hợp mỗi năm. Tuy nhiên, ngành Y tế vẫn ghi nhận các ca bệnh ở những người không tiêm chủng, tiêm không đủ liều hoặc bỏ quên mũi tiêm nhắc.

Phân tích dịch tễ cho thấy một số trường hợp mắc bệnh xảy ra ở những người từng được tiêm chủng nhưng miễn dịch suy giảm theo thời gian hoặc chưa hoàn thành lịch tiêm nhắc theo khuyến cáo.

Theo chương trình tiêm chủng mở rộng, trẻ cần tiêm 3 mũi cơ bản gồm mũi đầu tiên lúc 1 tuổi, mũi thứ hai sau 1-2 tuần và mũi thứ ba sau mũi thứ hai một năm. Sau đó, cần tiêm nhắc lại mỗi 3-4 năm cho đến khi đủ 15 tuổi để duy trì miễn dịch bảo vệ.

Các chuyên gia nhấn mạnh rằng nhiều phụ huynh thường nhớ lịch tiêm cơ bản nhưng lại quên các mũi nhắc. Đây là khoảng trống miễn dịch khiến trẻ vẫn có nguy cơ mắc bệnh dù đã từng được tiêm chủng trước đó.

Nói thêm về vắc-xin viêm não Nhật Bản, theo bác sỹ Nguyễn Tuấn Hải, Hệ thống tiêm chủng Safpo/Potec, vắc-xin là biện pháp hiệu quả nhất để phòng ngừa viêm não Nhật Bản. Việc tiêm chủng đầy đủ giúp cơ thể tạo miễn dịch chống lại virus, từ đó ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh hoặc giảm đáng kể khả năng diễn tiến nặng và tử vong.

Bác sỹ Hải cũng cho biết thêm, bên cạnh vắc-xin viêm não Nhật Bản bất hoạt từ não chuột được sử dụng nhiều năm qua, sự phát triển của công nghệ sinh học đã mở ra thế hệ vắc-xin mới được nuôi cấy trên tế bào Vero với nhiều ưu điểm vượt trội về tính an toàn và hiệu quả bảo vệ.

Nhờ quy trình sản xuất hiện đại và tinh khiết hóa cao, vắc-xin thế hệ mới không chứa protein từ não chuột, qua đó giảm thiểu các phản ứng sau tiêm như sốt, đau hoặc sưng tại vị trí tiêm. Đồng thời, vắc-xin tạo đáp ứng miễn dịch mạnh mẽ và bền vững hơn, giúp kéo dài thời gian bảo vệ trước virus viêm não Nhật Bản.

Một ưu điểm đáng chú ý khác là phác đồ tiêm linh hoạt, thuận tiện hơn cho người dân. Đối với trẻ em, chỉ cần tiêm 2 mũi cơ bản đã có thể tạo hiệu quả bảo vệ cao, góp phần giảm số lần tiêm và tăng tỷ lệ hoàn thành lịch tiêm chủng.

Nhiều phụ huynh cho rằng, trẻ đã được bảo vệ suốt đời sau khi hoàn thành 3 mũi vắc-xin trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy lượng kháng thể phòng bệnh có thể suy giảm theo thời gian, khiến trẻ lớn và cả người trưởng thành vẫn có nguy cơ mắc viêm não Nhật Bản.

Để duy trì khả năng bảo vệ bền vững, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Hội Y học Dự phòng Việt Nam khuyến cáo người dân nên tiêm nhắc bằng vắc-xin thế hệ mới sau khi hoàn thành phác đồ 3 mũi cơ bản trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng.

Mũi tiêm nhắc này được xem như "chìa khóa" kích hoạt lại hệ miễn dịch, giúp cơ thể tạo ra lượng kháng thể cao và bền vững hơn trước sự tấn công của virus. Đối tượng được khuyến cáo tiêm nhắc bao gồm trẻ lớn và người trưởng thành chưa được củng cố miễn dịch đầy đủ.

Trong bối cảnh viêm não Nhật Bản vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và có thể để lại di chứng thần kinh suốt đời, việc tiêm chủng đầy đủ và tiêm nhắc đúng lịch không chỉ bảo vệ mỗi cá nhân mà còn góp phần xây dựng lá chắn miễn dịch cho cộng đồng.

Theo chuyên gia, bất kỳ ai chưa có miễn dịch với virus viêm não Nhật Bản đều có nguy cơ mắc bệnh. Do đó, không chỉ trẻ em mà người lớn chưa tiêm hoặc chưa tiêm đủ liều cũng cần được tư vấn để hoàn thiện lịch tiêm phòng.

Bên cạnh tiêm chủng, người dân cần chủ động phòng chống muỗi đốt bằng cách ngủ màn, vệ sinh môi trường, loại bỏ nơi sinh sản của muỗi và bảo vệ trẻ em trong mùa cao điểm từ tháng 5 đến tháng 9 hằng năm.

Điều khiến viêm não Nhật Bản trở thành nỗi lo của ngành Y tế là bệnh thường khởi phát với các dấu hiệu khá giống cảm cúm hoặc sốt virus thông thường như sốt cao, đau đầu, buồn nôn, nôn, mệt mỏi.

Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn, virus có thể tấn công trực tiếp vào hệ thần kinh trung ương, gây viêm não, phù não, co giật, rối loạn ý thức, hôn mê và suy đa cơ quan.

Các chuyên gia cho biết tỷ lệ tử vong do viêm não Nhật Bản có thể lên tới 20-30%. Ngay cả trong số những người may mắn sống sót, khoảng 30-50% phải gánh chịu các di chứng thần kinh và tâm thần kéo dài như liệt vận động, co cứng cơ, động kinh, giảm trí nhớ, rối loạn ngôn ngữ, chậm phát triển trí tuệ hoặc suy giảm khả năng học tập và lao động.

Nhiều trường hợp phải sống chung với di chứng suốt đời, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh và gia đình.

Đáng lo ngại hơn, đến nay viêm não Nhật Bản vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Các biện pháp điều trị hiện nay chủ yếu là hồi sức tích cực, kiểm soát triệu chứng và hỗ trợ chức năng sống. Chính vì vậy, phát hiện sớm chỉ giúp tăng cơ hội cứu sống người bệnh, còn biện pháp hiệu quả nhất để phòng bệnh vẫn là tiêm chủng.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ước tính có khoảng 3 tỷ người đang sinh sống trong vùng nguy cơ tại 24 quốc gia châu Á, trong đó khoảng 700 triệu là trẻ em dưới 15 tuổi. GS-TS.Vũ Sinh Nam, Hội Y học Dự phòng Việt Nam cho biết, mỗi năm thế giới ghi nhận khoảng 67.900 ca mắc viêm não Nhật Bản. Tỷ lệ tử vong có thể lên tới 30%.

Đáng lo ngại hơn, khoảng một nửa số bệnh nhân sống sót phải mang các di chứng thần kinh kéo dài như động kinh, rối loạn vận động, suy giảm trí nhớ, giảm khả năng học tập, rối loạn hành vi hoặc mất khả năng lao động.

Một nghiên cứu thực hiện tại Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar trên 617 bệnh nhân nghi ngờ viêm não cho thấy viêm não Nhật Bản chiếm tới 33% số trường hợp xác định được căn nguyên. Tỷ lệ tử vong ghi nhận là 16% và gần 49% bệnh nhân để lại di chứng thần kinh.

Các chuyên gia nhận định, đây là một trong những bệnh truyền nhiễm gây gánh nặng lớn nhất đối với người bệnh, gia đình và xã hội bởi hậu quả không chỉ dừng lại ở giai đoạn cấp tính mà còn kéo dài nhiều năm sau đó.

Tin liên quan
Tin khác