Số liệu mà Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa công bố cho thấy, trong tháng 7/2026, tiền gửi dân cư tiếp tục tăng mạnh trong khi tiền gửi tổ chức quay đầu giảm. Theo đó, tính đến cuối tháng 7, tiền gửi của dân cư tại các tổ chức tín dụng đạt 11,22 triệu tỷ đồng, tăng 8,56% so với cuối năm 2025 và tiếp tục lập kỷ lục mới.
Như vậy, tính riêng trong tháng 6/2026, tiền gửi dân cư tăng thêm 151.900 tỷ đồng, tương đương 1,37%. Từ đầu năm tới nay, người dân đã gửi thêm vào hệ thống ngân hàng 885.100 tỷ đồng.
Ngược lại, tiền gửi của khối tổ chức kinh tế giảm nhẹ trong tháng 7 (giảm khoảng 130.700 tỷ đồng), đưa tiền gửi tổ chức 7 tháng chỉ tăng 0,98% so với cuối năm ngoái, đạt 6,24 triệu tỷ đồng.
Như vậy, tính tới hết tháng 7/2026, tổng tiền gửi dân cư và tổ chức kinh tế đạt 17,46 triệu tỷ đồng trong khi tín dụng cùng thời điểm đạt quy mô 20,26 triệu tỷ đồng.
Trong 7 tháng đầu năm, tiền gửi dân cư và tổ chức chỉ tăng 945.000 tỷ đồng trong khi lượng tín dụng được các ngân hàng bơm ra nền kinh tế là gần 1,67 triệu tỷ đồng.
Dĩ nhiên, con số này không phản ánh đầy đủ quy mô nguồn vốn huy động của ngân hàng, ngoài tiền gửi dân cư và tổ chức, các ngân hàng thương mại còn huy động vốn từ nhiều nguồn khác như: Phát hành giấy tờ có giá; vay từ NHNN và các tổ chức tín dụng khác... Hiện tại, thanh khoản của hệ thống vẫn ổn định. Tuy nhiên, con số trên cũng phần nào cho thấy áp lực thanh khoản và lãi suất của hệ thống ngân hàng thời gian qua.
Theo thống kê của TCBS Research, nửa đầu năm nay, tiền gửi khách hàng chỉ chiếm 59,8% tổng nguồn vốn toàn ngành. Số còn lại các ngân hàng phải đi huy động từ kênh khác.
Nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh dựa vào tiền gửi nhiều hơn mặt bằng chung. Cụ thể, con số này tại BIDV là 65,7%, tại Vietcombank là 65,1% và VietinBank là 63,8%.
Trong khi đó, khối ngân hàng tư nhân dựa nhiều hơn vào vốn thị trường, tiền gửi khách hàng chỉ chiếm trên dưới 50% tổng nguồn huy động của các ngân hàng này: Tiền gửi khách hàng tại MB chiếm 55,6% tổng nguồn huy động; con số này tại Techcombank và VPBank lần lượt là 52% và 48,8%.
Tại một số ngân hàng, tiền gửi dân cư chỉ chiếm 44-46% tổng nguồn huy động (NamABank, OCB, MSB), tức các ngân hàng này phụ thuộc rất lớn vào các nguồn tiền gửi khác ngoài tiền gửi tiết kiệm của khách hàng, đặc biệt là kênh giấy tờ có giá và thị trường liên ngân hàng.
Đáng lưu ý, theo TCBS Research, tỷ trọng tiền gửi khách hàng trên tổng nguồn vốn của toàn ngành đang giảm dần qua các quý. Trong sáu quý gần nhất, tỷ trọng tiền gửi khách hàng giảm từ 64,6% về 59,8% tổng nguồn vốn, trong khi tỷ trọng huy động vốn từ thị trường liên ngân hàng và giấy tờ có giá tăng mạnh.
Thống kê của TCBS cho thấy, trong vòng 2 năm qua, giấy tờ có giá đã tăng gấp đôi và đang chiếm 9,8% tổng huy động. Khi tiền gửi tăng chậm hơn tín dụng và tỷ trọng cho vay dài hạn đi lên, kênh vốn trung dài hạn này trở thành lựa chọn chính của các ngân hàng tư nhân lớn.
Giấy tờ có giá cũng là kênh huy động có tốc độ tăng trưởng tăng nhanh nhất hai năm qua và tiếp tục tăng tốc trong quý 2. Số dư giấy tờ có giá của 26 ngân hàng đạt 1,96 triệu tỷ đồng tính đến cuối quý 2/2026, tăng 16,7% từ đầu năm và 23,6% so với cùng kỳ - gấp ba lần tốc độ 5,5% của tiền gửi khách hàng. Tỷ trọng giấy tờ có giá trong tổng huy động tăng từ 7,3% lên 9,8% trong hai năm.
Mức độ dựa vào giấy tờ có giá phân hóa rõ theo mô hình kinh doanh, tập trung nhiều ở nhóm ngân hàng TMCP tư nhân lớn, cho vay trung dài hạn nhiều. Tại OCB, ACB, TCB, giấy tờ có giá đều trên 20% tổng huy động, con số này tại MB là 15,5% và VPB là 13,5%.
Các chuyên gia phân tích cho rằng, động lực đẩy mạnh giấy tờ có giá nằm ở cả hai phía của bảng cân đối: huy động không theo kịp tín dụng và tài sản đang dài hạn hơn. Cụ thể, tính đến hết tháng 6/2026, tín dụng tăng 9% trong khi tiền gửi chỉ tăng 5,5%; tỷ trọng cho vay dài hạn đã lên 33,2% trong khi phần lớn tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng.
Giấy tờ có giá giải quyết cùng lúc ba ràng buộc: được tính đầy đủ vào tổng tiền gửi khi tính LDR; là nguồn vốn trung dài hạn cho tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (30%, nới lên 40% từ 1/7/2026); và trái phiếu kỳ hạn từ 5 năm được tính vào vốn cấp 2 - hệ thống cần khoảng 283.000 tỷ đồng trái phiếu cấp 2 trong 1–3 năm tới theo VIS Rating.
Khối ngân hàng thương mại quốc doanh còn thêm lý do riêng: từ 1/1/2026 tiền gửi Kho bạc bị loại hoàn toàn khỏi LDR, khiến BID, VCB, CTG và Agribank công bố kế hoạch phát hành kỷ lục 7– 41.000 tỷ đồng mỗi ngân hàng trước khi quy định được nới lại vào tháng 5 và tháng 8.
Trái phiếu ngân hàng bùng nổ suốt 3 tháng qua (tháng 6 đến tháng 8) và chiếm gần như toàn bộ thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Trong tháng 7/2026, các ngân hàng phát hành khoảng 35.600 tỷ đồng trong tổng 41.000 tỷ đồng trái phiếu phát hành toàn thị trường. Trong tháng 8/2026, nhóm ngân hàng cũng chiếm tới gần 88% tổng lượng trái phiếu phát hành của toàn thị trường.
Lãi suất phát hành trái phiếu ngân hàng năm nay tăng mạnh so với năm ngoái, nhiều thời điểm chạm mốc 10%/năm. TCBS Research đánh giá giấy tờ có giá sẽ tiếp tục tăng nhanh hơn tiền gửi trong nửa cuối năm, và vì đây là nguồn vốn đắt nhất trong cơ cấu huy động, chi phí vốn toàn ngành sẽ còn neo cao.
Nguyên nhân là nhu cầu huy động vốn toàn ngành vẫn rất lớn do tín dụng tăng tốc theo hạn mức mới trong khi tiền gửi tăng chậm; kế hoạch trái phiếu cấp 2 trên 75.000 tỷ đồng của các nhà băng mới thực hiện một phần; khoảng 20.000 tỷ đồng trái phiếu ngân hàng đáo hạn nửa cuối năm cần được đảo.